Tới nội dung

Tri thức / Đông phương / Kinh Dịch

Kinh Dịch

Quẻ Sơn Hỏa Bí - ý nghĩa và ứng dụng trong Kinh Dịch

Thuật số truyền thống Hệ diễn giải cổ.

Kinh Dịch

TL;DR: Quẻ Sơn Hỏa Bí (賁, quẻ số 22 theo thứ tự Chu Dịch) gồm quẻ dưới là Ly (Lửa) và quẻ trên là Cấn (Núi). Quái từ chép: 賁:亨。小利有攸往, nghĩa sát là Bí thông hanh, nhỏ có lợi khi có chỗ đi tới. Gợi ý của Nhật Nguyệt: đây là quẻ của văn sức, nên chú ý cách trình bày nhưng đừng để hình thức lấn át phần xét việc.

Quẻ Sơn Hỏa Bí là gì?

Sơn Hỏa Bí (賁) là quẻ số 22 theo thứ tự Chu Dịch. Quẻ gồm quẻ dưới là Ly (Lửa) và quẻ trên là Cấn (Núi), tức Sơn Hỏa Bí. Chữ Bí (賁) nghĩa là trang sức, tô điểm.

Truyền thống quy cho Phục Hy vẽ quái, Văn Vương đặt tên và viết quái từ, Chu Công viết hào từ, Khổng Tử viết Thập Dực; nghiên cứu hiện đại không coi chuỗi quy tác giả ấy là đã chứng minh, và thường xếp phần kinh của Chu Dịch vào Trung Hoa đời Tây Chu, còn Thập Dực vào khoảng thế kỷ 5 tới 2 TCN.

Lời gốc quẻ Sơn Hỏa Bí gồm quái từ và hào từ như thế nào?

Quái từ (賁:亨。小利有攸往): Bí: hanh. Tiểu lợi hữu du vãng. Nghĩa sát: Bí thông hanh; nhỏ có lợi khi có chỗ đi tới.

Hào Sơ cửu (初九:賁其趾,舍車而徒): Bí kỳ chỉ, xả xa nhi đồ. Nghĩa sát: Trang sức ngón chân mình, bỏ xe mà đi bộ.

Hào Lục nhị (六二:賁其須): Bí kỳ tu. Nghĩa sát: Trang sức bộ râu.

Hào Cửu tam (九三:賁如濡如,永貞吉): Bí như nhu như, vĩnh trinh cát. Nghĩa sát: Trang sức mà thấm nhuận, giữ chính bền lâu thì tốt.

Hào Lục tứ (六四:賁如皤如,白馬翰如,匪寇婚媾): Bí như bà như, bạch mã hàn như, phỉ khấu hôn cấu. Nghĩa sát: Trang sức mà trắng toát, ngựa trắng vụt bay, chẳng phải giặc cướp mà là cầu hôn.

Hào Lục ngũ (六五:賁於丘園,束帛戔戔,吝,終吉): Bí vu khâu viên, thúc bạch tiên tiên, lận, chung cát. Nghĩa sát: Trang sức nơi gò vườn, bó lụa mỏng manh, tiếc, cuối cùng tốt.

Hào Thượng cửu (上九:白賁,无咎): Bạch bí, vô cữu. Nghĩa sát: Trang sức trắng, không lỗi.

Thoán truyện và Tượng truyện của quẻ Bí nói gì?

Thoán truyện (賁,亨;柔來而文剛,故亨。分剛上而文柔,故小利有攸往。剛柔交錯,天文也;文明以止,人文也。觀乎天文,以察時變;觀乎人文,以化成天下): Bí hanh; nhu lai nhi văn cương, cố hanh. Phân cương thượng nhi văn nhu, cố tiểu lợi hữu du vãng. Cương nhu giao thác, thiên văn dã; văn minh dĩ chỉ, nhân văn dã. Quan hồ thiên văn, dĩ sát thời biến; quan hồ nhân văn, dĩ hóa thành thiên hạ.

Đại Tượng (山下有火,賁;君子以明庶政,无敢折獄): Sơn hạ hữu hỏa, Bí; quân tử dĩ minh thứ chính, vô cảm chiết ngục. Nghĩa sát: Dưới núi có lửa là Bí; người quân tử soi sáng các việc chính, không dám xử ngục.

Các Tiểu Tượng trong nguồn:

  • 舍車而徒,義弗乘也: Xả xa nhi đồ, nghĩa phất thừa dã. Bỏ xe mà đi bộ, vì nghĩa không nên ngồi xe.
  • 賁其須,與上興也: Bí kỳ tu, dữ thượng hưng dã. Trang sức bộ râu, cùng bậc trên mà khởi.
  • 永貞之吉,終莫之陵也: Vĩnh trinh chi cát, chung mạc chi lăng dã. Cái tốt của giữ chính bền lâu, cuối cùng không ai lấn được.
  • 六四,當位疑也。匪寇婚媾,終无尤也: Lục tứ, đương vị nghi dã. Phỉ khấu hôn cấu, chung vô vưu dã.
  • 六五之吉,有喜也: Lục ngũ chi cát, hữu hỷ dã.
  • 白賁无咎,上得志也: Bạch bí vô cữu, thượng đắc chí dã.

Chú của Vương Bật và Chu Hy

Vương Bật chú. Trên câu 剛柔交錯,天文也: "Cương nhu giao thác nhi thành văn yên, thiên chi văn dã". Trên câu 文明以止,人文也: "Chỉ vật bất dĩ uy vũ nhi dĩ văn minh, nhân chi văn dã". Trên câu 觀乎天文…化成天下: "Quan thiên chi văn, tắc thời biến khả tri dã; quan nhân chi văn, tắc hóa thành khả vi dã".

Trên hào Sơ cửu: "Tại Bí chi thủy, dĩ cương xử hạ, cư ư vô vị, khí ư bất nghĩa, an phu đồ bộ dĩ tòng kỳ chí giả dã. Cố sức kỳ chỉ, xả xa nhi đồ, nghĩa phất thừa chi vị dã". Nghĩa sát: Ở đầu thời Bí, lấy cương mà ở dưới, ngôi không, bỏ điều bất nghĩa, yên phận đi bộ theo chí mình, nên trang sức ngón chân, bỏ xe mà đi bộ.

Trên hào Lục nhị: "Đắc kỳ vị nhi vô ứng, tam diệc vô ứng, câu vô ứng nhi bỉ yên, cận nhi tương đắc giả dã. Tu chi vi vật, thượng phụ giả dã. Tuần kỳ sở lý dĩ phụ ư thượng, cố viết Bí kỳ tu dã". Nghĩa sát: Râu là vật phụ thuộc bên trên, theo chỗ mình đứng mà bám lên trên.

Trên hào Cửu tam: "Xử hạ thể chi cực, cư đắc kỳ vị, dữ nhị tương bỉ, câu lý kỳ chính, hòa hợp tương nhuận, dĩ thành kỳ văn giả dã… Vĩnh bảo kỳ trinh, vật mạc chi lăng, cố viết vĩnh trinh cát dã".

Trên hào Lục tứ: "Hữu ứng tại sơ nhi ngại ư tam, vi kỷ khấu nan, nhị chí tương cảm, bất hoạch thông hanh, dục tĩnh tắc nghi sơ chi ứng, dục tiến tắc cụ tam chi nan, cố hoặc sức hoặc tố, nội hoài nghi cụ dã… Tam vi cương mãnh, vị khả khinh phạm, phỉ khấu nãi hôn, chung vô vưu dã".

Trên hào Lục ngũ: "Xử đắc tôn vị, vi sức chi chủ, sức chi thịnh giả dã. Sức sức ư vật, kỳ đạo hại dã. Sức sức khâu viên, thịnh mạc đại yên… Dụng mạc quá kiệm, thái nhi năng ước, cố tất lận yên nãi đắc chung cát dã".

Trên hào Thượng cửu: "Xử sức chi chung, sức chung phản tố, cố tại kỳ chất tố, bất lao văn sức nhi vô cữu dã. Dĩ bạch vi sức, nhi vô hoạn ưu, đắc chí giả dã".

Chu Hy (Chu Dịch bản nghĩa) chú. Trên quái từ: "Bí, bỉ ngụy phản. Bí, sức dã… Nội Ly nhi ngoại Cấn, hữu văn minh nhi các đắc kỳ phân chi tượng, cố vi Bí. Chiêm giả dĩ kỳ nhu lai văn cương, dương đắc âm trợ nhi Ly minh ư nội, cố vi hanh; dĩ kỳ cương thượng văn nhu nhi Cấn chỉ ư ngoại, cố tiểu lợi hữu du vãng".

Trên hào Sơ cửu: "Xả âm xả. Cương đức minh thể, tự bí ư hạ, vi xả phi đạo chi xa nhi an ư đồ bộ chi tượng. Chiêm giả tự xử đương như thị dã".

Trên hào Lục nhị: "Nhị dĩ âm nhu cư trung chính, tam dĩ dương cương nhi đắc chính, giai vô ứng dữ, cố nhị phụ tam nhi động, hữu Bí tu chi tượng. Chiêm giả nghi tòng thượng chi dương cương nhi động dã".

Trên hào Cửu tam: "Nhất dương cư nhị âm chi gian, đắc kỳ bí nhi nhuận trạch giả dã. Nhiên bất khả nịch ư sở an, cố hữu vĩnh trinh chi giới".

Trên hào Lục tứ: "Bà, bạch ba phản. Bà, bạch dã. Mã nhân sở thừa, nhân bạch tắc mã diệc bạch hĩ. Tứ dữ sơ tương bí giả, nãi vi cửu tam sở cách nhi bất đắc toại, cố bà như nhi kỳ vãng cầu chi tâm như phi hàn chi tật dã. Nhiên cửu tam cương chính, phi vi khấu giả dã, nãi cầu hôn cấu nhĩ, cố kỳ tượng như thử".

Trên hào Lục ngũ: "Tiên tại thiên phản hựu âm tiên. Lục ngũ nhu trung, vi Bí chi chủ, đôn bản thượng thực, đắc Bí chi đạo, cố hữu khâu viên chi tượng. Nhiên âm tính lận sắc, cố hữu thúc bạch tiên tiên chi tượng. Thúc bạch bạc vật, tiên tiên thiển tiểu chi ý. Nhân nhi như thử, tuy khả tu lận, nhiên lễ xa ninh kiệm, cố đắc chung cát".

Trên hào Thượng cửu: "Bí cực phản bản, phục ư vô sắc, thiện bổ quá hĩ, cố kỳ tượng chiêm như thử".

Sáu hào đọc từ dưới lên, ba hào dưới là nội quái, ba hào trên là ngoại quái.
Sáu hào đọc từ dưới lên, ba hào dưới là nội quái, ba hào trên là ngoại quái.

Theo cách hiểu của Nhật Nguyệt, quẻ Bí nói về điều gì?

Theo cách hiểu của Nhật Nguyệt, Bí là quẻ của văn sức: lấy cái sáng của Ly đặt dưới cái dừng của Cấn, cho nên cái đẹp được bày ra có giới hạn, không tràn lan. Thoán truyện nói tới thiên văn và nhân văn, tức là xem cách trời đất xen kẽ để biết thời biến, xem cách con người văn minh mà dừng để giáo hóa thiên hạ. Đại Tượng lại nghiêng về việc chính sự: soi sáng các việc thường, còn việc ngục thì không dám tự chuyên.

Đặt cạnh nhau, các hào cho thấy một tiến trình: khởi đầu giữ nghĩa mà chịu đơn sơ (Sơ cửu), kế đó là phụ thuộc vào bậc trên để cùng khởi (Lục nhị), rồi tới lúc trang sức mà thấm nhuận phải giữ chính bền (Cửu tam), tới chỗ nghi ngờ thì giữ lòng như ngựa trắng phóng tới nhưng biết phân biệt cướp với cầu hôn (Lục tứ), tới ngôi cao thì chuộng gốc, dùng lễ kiệm (Lục ngũ), và cuối cùng trở về trắng, tức bỏ hết văn sức (Thượng cửu).

Gặp quẻ Sơn Hỏa Bí khi hỏi việc làm thì nên hiểu thế nào?

Gợi ý của Nhật Nguyệt: quẻ Bí gợi tới việc trình bày, hình ảnh, cách nói, cách sắp đặt. Nếu đang chuẩn bị hồ sơ, thuyết trình, xây dựng thương hiệu cá nhân hay một buổi giới thiệu, đây là dịp chú ý tới hình thức. Nhưng Đại Tượng nói tới việc soi sáng các việc chính mà không dám xử ngục, nên với những việc cần phán xét, kết luận nặng, nên dè dặt, đừng để cái bóng bẩy lấn át phần xét việc.

Gặp quẻ Bí khi hỏi chuyện tình cảm thì nên hiểu thế nào?

Gợi ý của Nhật Nguyệt: hào Lục tứ có hình ảnh ngựa trắng phóng tới và câu phỉ khấu hôn cấu, tức chẳng phải giặc cướp mà là cầu hôn. Đây là hình ảnh của một trở ngại xen giữa hai bên, khiến người trong cuộc vừa muốn tiến vừa nghi ngại. Vương Bật chú hào ấy nói rõ là có ứng với hào Sơ nhưng bị hào Tam ngăn, cho nên hoặc sức hoặc tố, trong lòng nghi cụ. Chu Hy chú cũng nói hào Tứ và hào Sơ muốn làm đẹp cho nhau mà bị hào Cửu tam cách trở. Trong chuyện tình cảm, quẻ này gợi tới việc phân biệt rõ điều gì là trở ngại thật, điều gì chỉ là nghi ngờ của mình.

Gặp quẻ Bí khi hỏi chuyện tiền bạc thì nên hiểu thế nào?

Gợi ý của Nhật Nguyệt: hào Lục ngũ nói tới bó lụa mỏng manh và chữ lận, cuối cùng mới tốt. Vương Bật chú hào này cho rằng dùng gì cũng không nên quá kiệm, nhưng ở ngôi tôn mà biết ước thúc thì cái tiếc nhỏ lại đưa tới kết quả tốt. Chu Hy chú thì nói lễ xa ninh kiệm, tức thà kiệm còn hơn xa hoa. Với chuyện tiền bạc, đây là gợi ý về việc chi tiêu có mức, ưu tiên cái gốc, chứ không phải một khuyến cáo đầu tư cụ thể.

Gặp quẻ Bí khi hỏi chuyện sức khỏe thì nên hiểu thế nào?

Gợi ý của Nhật Nguyệt: quẻ Bí không nói về bệnh tật. Đại Tượng chỉ nói tới việc quân tử soi sáng các việc chính và không dám xử ngục. Với sức khỏe, đây không phải căn cứ để phán đoán gì; nếu có vấn đề, nên hỏi người có chuyên môn.

Gợi ý của Nhật Nguyệt cho người ở vị trí lãnh đạo là gì?

Gợi ý của Nhật Nguyệt: hào Lục ngũ ở ngôi tôn mà lại là chủ của sự trang sức, Vương Bật chú nói rằng sức sức cho vật thì đạo ấy có hại, cho nên mới chuyển về gò vườn, dùng bó lụa mỏng. Chu Hy chú nói hào này đôn bản thượng thực, đắc Bí chi đạo. Với người lãnh đạo, đây là gợi ý về việc chuộng cái gốc, giữ lễ kiệm, không lấy hào nhoáng làm chỗ dựa.

Bảng tra cứu nhanh: quẻ Sơn Hỏa Bí

Khía cạnhNội dung
Số thứ tự trong 64 quẻ22
Tên chữ Hán賁
Ký hiệu䷕
Tên tiếng AnhGrace
Quẻ thượng (ngoại quái)Cấn (Núi), hành Thổ, phương Đông Bắc
Quẻ hạ (nội quái)Ly (Lửa), hành Hỏa, phương Nam
Sáu hào, hào sơ ở dướisơ dương, nhị âm, tam dương, tứ âm, ngũ âm, thượng dương
TượngLửa soi dưới chân núi, cảnh vật hiện rõ đường nét.
Luận giảiTượng cho hình thức, trang sức và cách trình bày. Người xưa cho rằng vẻ ngoài có ích khi đi cùng thực chất. Chỉ chuốt bề mặt thì cái đẹp không giữ được lâu.

Số liệu trong bảng khớp với kết quả các công cụ tra cứu trên Nhật Nguyệt.

Bối cảnh và truyền thống chú giải có gì đáng chú ý?

Các hào từ của Bí có những câu mang chuẩn mực xã hội thời xưa, như chuyện hôn nhân ở hào Lục tứ, chuyện vua tôi và bậc trên bậc dưới ở hào Lục nhị và Tiểu Tượng của nó. Đây là bối cảnh lịch sử của văn bản, không phải lời khuyên áp cho quan hệ hôm nay.

Về truyền thống chú giải, Vương Bật sống thời Ngụy, Chu Hy sống thời Nam Tống. Hai nhà đọc Bí khác nhau ở vài chỗ: Vương Bật nhấn vào thế và vị của hào, Chu Hy nhấn vào thể quái và việc chiêm đoán. Cả hai đều nói hào Lục tứ bị hào Cửu tam ngăn, nhưng Vương Bật khai triển thêm ý sợ hãi và nghi ngờ, còn Chu Hy thì nói tới tâm thế phóng tới như ngựa trắng.

Mối liên hệ với triết lý Âm Dương là gì?

Quẻ Sơn Hỏa Bí được trình bày trong khuôn khổ thuyết Âm dương của truyền thống. Sự kết hợp giữa Hỏa ở dưới và Sơn ở trên, cùng với các cặp cương nhu trong Thoán truyện, cho thấy vẻ đẹp được hình dung như kết quả của sự xen kẽ và điểm xuyết lẫn nhau.

Có giả thuyết cho rằng Kinh Dịch thuộc về một nền văn minh tối cổ ở phương Nam, chẳng hạn cách trình bày của Nguyễn Vũ Tuấn Anh trong một số sách. Đây là giả thuyết của một người; giới nghiên cứu chính thống không chấp nhận nó, và xếp phần kinh của Chu Dịch vào Trung Hoa đời Tây Chu, khoảng cuối thế kỷ 9 TCN.

Bài tổng quan chủ đề: Kinh Dịch là gì.

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Quẻ Sơn Hỏa Bí có ý nghĩa chính là gì?

Quẻ Sơn Hỏa Bí (quẻ 22) tượng trưng cho vẻ đẹp hình thức, sự trang sức và sự tinh tế. Quẻ nhấn mạnh tầm quan trọng của việc trau chuốt bề ngoài, cách thể hiện và giao tiếp, nhưng đồng thời cảnh báo rằng vẻ đẹp chân chính phải dựa trên nền tảng nội hàm vững chắc. Sự giản dị và chân thật mới là hình thức trang sức cao quý nhất.

Làm thế nào để áp dụng quẻ Sơn Hỏa Bí vào công việc?

Gợi ý của Nhật Nguyệt: Trong công việc, nên đầu tư vào kỹ năng trình bày, giao tiếp và xây dựng hình ảnh chuyên nghiệp, vì đây là những yếu tố giúp giá trị của bạn được công nhận.. Tuy nhiên, cần đảm bảo rằng những kỹ năng này dựa trên năng lực thực sự và sự chính trực. Tránh việc chạy theo hình thức hào nhoáng mà bỏ quên chất lượng công việc cốt lõi.

Quẻ Sơn Hỏa Bí có ý nghĩa gì trong tình yêu và các mối quan hệ?

Gợi ý của Nhật Nguyệt: Trong tình yêu và các mối quan hệ, hãy chú trọng đến sự tinh tế, lãng mạn và cách thể hiện tình cảm đẹp đẽ. Những cử chỉ quan tâm, lời nói khéo léo giúp vun đắp tình cảm. Gợi ý của Nhật Nguyệt: sự chân thành và thấu hiểu mới là nền tảng bền vững, không nên chỉ dừng lại ở những hành động hình thức bên ngoài mà thiếu chiều sâu cảm xúc.

Bài này thuộc chủ đề Kinh Dịch. Xem toàn bộ tiện ích và bài viết về Kinh Dịch.

Đọc tiếp

64 quẻ · Quẻ Sơn Hỏa Bí

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. Giới thiệu hai tác phẩm nghiên cứu mới về Kinh Dịch - Báo Nhân Dân
  2. Kinh dịch và Minh triết Việt qua góc nhìn Nguyễn Vũ Tuấn Anh - Báo Pháp Luật TP.HCM
  3. Ngô Tất Tố (dịch và chú giải), Kinh Dịch
  4. Richard Wilhelm và Cary F. Baynes (dịch), I Ching or Book of Changes, Princeton University Press (1950)
  5. Chu Dịch, quẻ Sơn Hỏa Bí (賁), kèm Thoán truyện và Tượng truyện, bản chữ Hán Wikisource
  6. Vương Bật chú, Khổng Dĩnh Đạt sớ, Chu Dịch chính nghĩa, quẻ 賁 (bản Wikisource)
  7. Chu Hy, Chu Dịch bản nghĩa (bản Tứ khố toàn thư, Wikisource)
#KinhDich#QueSonHoaBi#Que22#BoiKinhDich#PhongThuy#TrietLyDongPhuong