Tri thức / Việt Nam

Nghệ thuật truyền thống

Cải lương ra đời thế nào từ đờn ca tài tử và Dạ cổ hoài lang?

Văn hoá và tín ngưỡng Ghi chép phong tục.

Cải lương ra đời thế nào từ đờn ca tài tử và Dạ cổ hoài lang?

TL;DR: Cải lương hình thành ở Nam Bộ đầu thế kỷ 20 từ đờn ca tài tử qua lối ca ra bộ; nhiều nhà nghiên cứu lấy năm 1918 làm mốc sân khấu cải lương ra đời. Bản Dạ cổ hoài lang do Cao Văn Lầu sáng tác đêm rằm tháng 8 năm 1919 là gốc của bài vọng cổ, về sau lột xác từ nhịp đôi lên nhịp 4, 8, 16, 32, 64 để thành bài vọng cổ trụ cột của sân khấu cải lương. Đây là quá trình chuyển từ hình thức ca ra bộ đến sân khấu có tích, có tuồng, chứ không phải một phát minh đột ngột của một cá nhân.

Cải lương ra đời thế nào và vì sao lại gắn với đờn ca tài tử?

Cải lương hình thành ở Nam Bộ vào đầu thế kỷ 20. Báo Tin tức viết rằng những năm ấy phong trào âm nhạc tài tử phát triển mạnh và các hình thức sơ khai của cải lương bắt đầu thành hình[1]. Đờn ca tài tử, thứ âm nhạc làm nền cho cải lương, được UNESCO ghi vào Danh sách đại diện di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại năm 2013[6].

Bước nối giữa hai loại hình là lối ca ra bộ, tức vừa ca vừa ra điệu bộ. Theo báo Thanh Niên, lúc ca ra bộ đang thịnh, ông Trương Duy Toản viết nhiều lớp riêng lẻ cho nghệ sĩ ca rồi ghép lại thành một tuồng; một số nhà nghiên cứu coi vở Kim Vân Kiều do gánh hát thầy Năm Tú diễn ở Mỹ Tho năm 1918 là vở cải lương đầu tiên, trong khi có tư liệu dẫn hồi ký của Vương Hồng Sển cho rằng đó là vở Gia Long tẩu quốc diễn tại Sài Gòn ngày 16/11/1918[4].

Tên gọi cải lương xuất hiện khoảng năm 1920, dùng cho những vở canh tân hát bội và ca ra bộ, gắn với câu đối còn truyền: "Cải cách hát ca theo tiến bộ / Lương truyền tuồng tích sánh văn minh"[4]. Mốc ra đời của sân khấu cải lương vì thế không thống nhất: bài trên Tuổi Trẻ năm 2018 dẫn các ý kiến 1916, 1918, 1919 và lời Vương Hồng Sển rằng muốn đặt năm sinh của cải lương vào năm nào là tùy mỗi người[5].

Vì sao bản Dạ cổ hoài lang được xem là mốc khởi đầu?

Báo Tin tức gọi bản Dạ cổ hoài lang của nhạc sĩ Cao Văn Lầu (tức Sáu Lầu) là mốc đánh dấu sự khởi đầu của sân khấu cải lương Nam Bộ[1]. Ông sinh năm 1892 ở xóm Cái Cui, làng Chí Mỹ (về sau nhập với làng Thuận Lễ thành xã Thuận Mỹ, huyện Vàm Cỏ, tỉnh Long An theo địa danh trước 7/2025, nay thuộc tỉnh Tây Ninh), chưa đầy 4 tuổi đã theo cha mẹ tới Bạc Liêu (nay thuộc tỉnh Cà Mau), rồi học nhạc với ông Lê Tài Khị, tục gọi Nhạc Khị[1]. Ông mất ngày 13/8/1976 tại Thành phố Hồ Chí Minh[1].

Theo lời kể mà báo thuật lại, vợ chồng ông ở với nhau ba năm chưa có con, và theo tục "tam niên vô tử bất thành thê" thì phải xa nhau. Một đêm rằm tháng tám năm 1919, nghe tiếng trống "công phu" buồn thảm vọng ra từ chùa Vĩnh Phước gần nhà, ông viết bài Dạ cổ hoài lang gồm 20 câu, nhịp 2, gửi vào đó nỗi nhớ vợ[1]. Tên bài nghĩa là đêm nghe tiếng trống nhớ chồng: lời ca là lời người vợ ngóng chồng[1].

Về nơi và ngày ra đời, lãnh đạo ngành văn hóa Bạc Liêu năm 2022 nêu: đêm Rằm tháng 8 năm 1919, tại làng Vĩnh Hương, tổng Thạnh Hòa, tỉnh Bạc Liêu (bài báo năm 2022 chú là Phường 2, thành phố Bạc Liêu; nay thuộc tỉnh Cà Mau)[2][3].

Bốn câu mở đầu được nhiều người thuộc: "Từ là từ phu tướng / Bảo kiếm sắc phong lên đàng / Vào ra luống trông tin nhạn / Năm canh mơ màng..."[1].

Dạ cổ hoài lang đã "lột xác" thành vọng cổ như thế nào?

Bản Dạ cổ hoài lang ban đầu ở nhịp 2. Báo Tin tức ghi các bước sau đó: Cổ thi nhịp tứ, rồi Vọng cổ nhịp 8, nhịp 16, nhịp 32, nhịp 64, và gọi đó là công trình phát triển chung của giới tài tử bốn phương[1]. Theo bài trên Tuổi Trẻ, từ năm 1922 cải lương có thêm bài Vọng cổ hoài lang viết theo nhịp bài Dạ cổ hoài lang[5].

Tên gọiNhịp
Dạ cổ hoài lang (Cao Văn Lầu, 1919)Nhịp 2, 20 câu
Cổ thiNhịp tứ (4)
Vọng cổNhịp 8
Vọng cổNhịp 16
Vọng cổNhịp 32
Vọng cổNhịp 64

Giáo sư Trần Văn Khê nhận xét rằng trong cổ nhạc Việt Nam chưa có bài nào như Dạ cổ hoài lang biến thành vọng cổ: "Từ một sáng tác cá nhân đã biến thành sáng tác tập thể"[1].

Cải lương khác gì đờn ca tài tử?

Đờn ca tài tử là nghệ thuật đờn và ca. Hồ sơ UNESCO mô tả nó được trình diễn trong lễ hội, đám giỗ và các cuộc vui; người đờn, người ca ngẫu hứng, tô điểm trên "lòng bản", với kho bài bản dựa trên 20 bài gốc và 72 bài cổ[6]. Cải lương thì là sân khấu: có tuồng, có lời thoại như kịch, lại có ca như ca tài tử kèm ra bộ[5].

Tiêu chíĐờn ca tài tửCải lương
Hình thứcĐờn và ca, ngẫu hứng trên lòng bảnDiễn tuồng, có thoại, có ca kèm ra bộ
Dịp trình diễnLễ hội, đám giỗ, cuộc vuiGánh hát diễn ở rạp
Bài bản20 bài gốc và 72 bài cổCó thêm bài vọng cổ, gốc từ Dạ cổ hoài lang

Vì sao cải lương lại phát triển mạnh ở Nam Bộ?

Bài trên Tuổi Trẻ giải thích: thời ấy người xem đòi một thứ mới hơn hát bội và ca tài tử trong phòng trà, lạ hơn kịch Tây; tuồng cải lương đáp lại bằng tích truyện gần với người Việt, lời thoại gần đời sống, dàn nhạc êm hơn[5]. Báo Tin tức thêm rằng người dân khi ấy mang nhiều tâm sự trong cảnh nước bị đô hộ và chờ một bài ca nói hộ lòng mình[1].

Có phải chỉ một mình Cao Văn Lầu làm ra cải lương?

Không. Cần phân biệt rõ hai việc: một là sự ra đời của bản Dạ cổ hoài lang, hai là sự ra đời của cả loại hình sân khấu cải lương. Bản Dạ cổ hoài lang là một tác phẩm cụ thể, có tác giả cụ thể là Cao Văn Lầu, ra đời năm 1919. Còn cải lương là cả một quá trình tập thể, có nhiều ban tài tử, nhiều nghệ sĩ, nhiều đoàn hát cùng tham gia trong nhiều năm.

Cách nói "Dạ cổ hoài lang đánh dấu sự khởi đầu của nền sân khấu cải lương Nam Bộ" là cách nói nhấn mạnh vai trò của bài ca như một cột mốc, chứ không có nghĩa là trước đó chưa có gì và sau đó mọi thứ do một tay Cao Văn Lầu tạo ra. Đây là điểm cần nói rõ để tránh hiểu sai lịch sử.

Hơn một trăm năm nhìn lại

Bản Dạ cổ hoài lang đã hơn một trăm năm tuổi. Tối 6/9/2022, tại Bạc Liêu (nay thuộc tỉnh Cà Mau), ngành văn hóa tỉnh tổ chức kỷ niệm 103 năm ngày bài ca ra đời, cùng dịp Ngày sân khấu Việt Nam lần thứ XIII[2][3]. Theo ban tổ chức, lễ kỷ niệm để tưởng nhớ nhạc sĩ Cao Văn Lầu và những người đi trước đã góp công làm nên bản vọng cổ, bài được gọi là "Bài ca vua" của sân khấu cải lương[2][3].

Tại buổi lễ, bà Trần Thị Lan Phương, khi ấy là Giám đốc Sở Văn hóa, Thông tin, Thể thao và Du lịch tỉnh Bạc Liêu, nhắc lại chặng đường của bài ca: từ nhịp đôi lên nhịp 4, 8, 16, 32 rồi 64, thành bài ca trụ cột của sân khấu cải lương Nam Bộ[2][3].

Gợi ý của Nhật Nguyệt: hiểu cải lương từ gốc rễ

Muốn hiểu cải lương, nên bắt đầu từ đờn ca tài tử và bản Dạ cổ hoài lang, vì đó là hai gốc rễ trực tiếp. Khi nghe một bài vọng cổ, nếu để ý tới nhịp, tới chỗ ngắt nghỉ, tới cách nhả chữ của nghệ sĩ, người nghe sẽ thấy được dấu vết của quá trình nâng nhịp từ đôi lên 4, 8, 16, 32, 64. Đó là cách nghe vừa thưởng thức vừa học lịch sử nghệ thuật.

Và cũng nên nhớ rằng cải lương không phải một loại hình cố định. Nó ra đời từ một phong trào âm nhạc, lớn lên nhờ sân khấu, và tiếp tục biến đổi qua từng thế hệ nghệ sĩ. Hiểu được điều đó sẽ giúp người đọc không nhầm giữa một bài ca cụ thể và cả một loại hình sân khấu.

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Cải lương ra đời năm nào?

Cải lương hình thành ở Nam Bộ vào khoảng đầu thế kỷ 20, trên nền phong trào đờn ca tài tử. Nhiều nhà nghiên cứu lấy năm 1918, gắn với vở Kim Vân Kiều của gánh thầy Năm Tú ở Mỹ Tho; cũng có ý kiến nêu 1916 hoặc 1919. Bản Dạ cổ hoài lang của Cao Văn Lầu ra đời đêm Rằm tháng 8 năm 1919 tại làng Vĩnh Hương, tổng Thạnh Hòa, tỉnh Bạc Liêu (nay thuộc tỉnh Cà Mau).

Dạ cổ hoài lang có phải là bài vọng cổ đầu tiên không?

Dạ cổ hoài lang được xem là mốc khởi đầu và là bài vọng cổ được yêu thích cho tới hôm nay. Ban đầu bài chỉ ở nhịp đôi, về sau được nâng dần lên nhịp 4, nhịp 8, nhịp 16, nhịp 32, nhịp 64 và trở thành bài ca trụ cột trong sân khấu cải lương Nam Bộ.

Cải lương khác đờn ca tài tử ở điểm nào?

Đờn ca tài tử là sinh hoạt âm nhạc thính phòng, chỉ đờn và ca, không diễn tích. Cải lương là sân khấu, có nhân vật, có tuồng tích, có đối đáp và có khán giả ngồi xem. Cải lương lấy âm nhạc tài tử làm nền nhưng thêm phần diễn xuất và tích truyện.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcdefghijBáo Tin tức (TTXVN): Từ Dạ cổ hoài lang đến dòng dân ca cải lương Nam Bộ, Đoạn về Cao Văn Lầu và bối cảnh sáng tác Dạ cổ hoài langBản Dạ cổ hoài lang được xem như là bản tâm tình của biết bao thế hệ người dân Nam Bộ và người viết nên tác phẩm bất hủ này là cố nhạc sỹ Cao Văn Lầu.
  2. ↑ abcdTuổi Trẻ Online: Bạc Liêu kỷ niệm 103 năm ra đời bản Dạ cổ hoài lang, Tin ngày 06/09/2022Bạc Liêu kỷ niệm 103 năm ra đời bản Dạ cổ hoài lang
  3. ↑ abcdVietnamPlus (TTXVN): Dạ cổ hoài lang, Bài ca vua trong sân khấu cải lương, Tin ngày 07/09/2022, phần phát biểu của bà Trần Thị Lan PhươngTrải qua thời gian 103 năm, bản "Dạ cổ hoài lang" đã dần lột xác từ nhịp đôi đến nhịp 4, nhịp 8, nhịp 16, nhịp 32, nhịp 64 và trở thành bài ca trụ cột trong loại hình nghệ thuật sân khấu cải lương Nam Bộ.
  4. ↑ abBáo Thanh Niên: Cải lương qua 1 thế kỷ: Buổi đầu 'cải cách hát ca theo tiến bộ'
  5. ↑ abcdTuổi Trẻ Online: 100 năm cải lương là năm nào?
  6. ↑ abUNESCO: Art of Đờn ca tài tử music and song in southern Viet Nam (ghi danh năm 2013)
#CảiLương#ĐờnCaTàiTử#DạCổHoàiLang#CaoVănLầu#VọngCổ#SânKhấuNamBộ#NghệThuậtTruyềnThống