Tới nội dung

Tri thức / Đông phương / Kinh Dịch

Kinh Dịch

Quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp - ý nghĩa và ứng dụng trong Kinh Dịch

Thuật số truyền thống Hệ diễn giải cổ.

Quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp - ý nghĩa và ứng dụng trong Kinh Dịch

Ảnh: Frederic Remington, Art Institute of Chicago (CC0/Public Domain)

TL;DR: Quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp (噬嗑) là quẻ thứ 21 theo thứ tự Chu Dịch, quẻ trên là Ly (Lửa), quẻ dưới là Chấn (Sấm). Quái từ chép: 噬嗑:亨。利用獄。 nghĩa sát là cắn mà khép lại thì hanh thông, lợi về việc ngục hình. Gợi ý của Nhật Nguyệt: khi có một chỗ vướng nằm chắn giữa công việc hay quan hệ, nên xác định đúng chỗ ấy và xử lý sớm, giữ sự rõ ràng thay vì dùng sức mạnh tùy tiện.

Quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp là quẻ gì trong 64 quẻ?

Quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp (噬嗑) là quẻ thứ 21 trong 64 quẻ theo thứ tự Chu Dịch, gồm quẻ trên là Ly (Lửa) và quẻ dưới là Chấn (Sấm). Tên quẻ viết bằng chữ Hán là 噬嗑, đọc là Phệ Hạp.

Truyền thống quy cho Phục Hy vạch quẻ, Văn Vương đặt tên và viết quái từ, Chu Công viết hào từ, Khổng Tử viết Thập Dực; nghiên cứu hiện đại không coi chuỗi quy tác giả ấy là đã chứng minh, mà xếp phần truyện vào khoảng thế kỷ 5 tới 2 TCN.

Lời gốc của quẻ Phệ Hạp chép thế nào?

Quái từ chép: 噬嗑:亨。利用獄。 Đọc là "Phệ Hạp: hanh, lợi dụng ngục", nghĩa sát là cắn mà khép lại thì hanh thông, lợi về việc ngục hình.

Sáu hào từ chép theo thứ tự từ dưới lên:

  • Hào Sơ cửu: 初九:屨校滅趾,无咎。 Đọc là "Cù giáo diệt chỉ, vô cữu", nghĩa là đeo gông vào chân đến che khuất ngón chân, không lỗi.
  • Hào Lục nhị: 六二:噬膚滅鼻,无咎。 Đọc là "Phệ phu diệt tị, vô cữu", nghĩa là cắn da mềm đến lấp mất mũi, không lỗi.
  • Hào Lục tam: 六三:噬昔肉,遇毒;小吝,无咎。 Đọc là "Phệ tích nhục, ngộ độc; tiểu lận, vô cữu", nghĩa là cắn thịt khô, gặp độc; hơi tiếc, không lỗi.
  • Hào Cửu tứ: 九四:噬乾胏,得金矢,利艱貞,吉。 Đọc là "Phệ can tỉ, đắc kim thỉ, lợi gian trinh, cát", nghĩa là cắn thịt khô dính xương, được mũi tên vàng, lợi về gian nan giữ chính, tốt.
  • Hào Lục ngũ: 六五:噬乾肉,得黃金,貞厲,无咎。 Đọc là "Phệ can nhục, đắc hoàng kim, trinh lệ, vô cữu", nghĩa là cắn thịt khô, được vàng, giữ chính mà nguy, không lỗi.
  • Hào Thượng cửu: 上九:何校滅耳,凶。 Đọc là "Hà giáo diệt nhĩ, hung", nghĩa là mang gông đến che khuất tai, hung.

Thoán truyện (thuộc Thập Dực) chép: 頤中有物,曰噬嗑,噬嗑而亨。剛柔分,動而明,雷電合而章。柔得中而上行,雖不當位,利用獄也。 Nghĩa sát là trong miệng có vật nên gọi là Phệ Hạp, cắn mà khép lại thì hanh thông. Cương nhu phân định, động mà sáng, sấm chớp hợp lại mà rõ ràng. Mềm được giữa mà đi lên, tuy không đúng ngôi, lợi về việc ngục hình.

Đại Tượng truyện (Tượng truyện, thuộc Thập Dực) chép: 雷電噬嗑;先王以明罰敕法。 Nghĩa sát là sấm chớp là Phệ Hạp; tiên vương nhân đó mà làm rõ hình phạt, sửa sang pháp luật.

Vương Bật và Chu Hy chú giải quẻ Phệ Hạp thế nào?

Vương Bật chú trên quái từ và Thoán truyện: "Phệ là cắn, Hạp là khép. Phàm vật không thân nhau là do có khe hở; vật không đều nhau là do có lỗi. Có khe hở và lỗi thì cắn mà khép lại, ấy là cách làm cho thông. Hình phạt khắc phục để thông, ấy là cái lợi của ngục." Vương Bật chú thêm: "Có vật có khe hở, không cắn không khép thì không có đường hanh thông." Về câu "cương nhu phân định, động mà sáng, sấm chớp hợp lại mà rõ ràng", Vương Bật chú: "Cương nhu phân định mà động, không loạn thì mới sáng; sấm chớp hợp lại, không rối thì mới rõ; đều là nghĩa 'lợi dụng ngục'." Về hào Lục ngũ, Vương Bật chú: "Là nói hào năm. Có thể làm chủ việc cắn khép mà thông, ắt phải có chủ, hào năm là thế. 'Đi lên' là nói chỗ hướng đến ở phía tiến. Phàm nói 'đi lên' đều là chỗ hướng đến ở ngôi quý. Tuy không đúng ngôi, không hại cho việc dùng ngục."

Vương Bật chú hào Sơ cửu: "Ở nơi không có ngôi để xử việc hình phạt ban đầu, là kẻ chịu hình chứ không phải kẻ trị hình. Phàm lỗi bắt đầu ắt từ nhỏ rồi sau mới đến rõ; phạt bắt đầu ắt từ nhẹ rồi sau mới đến giết. Lỗi nhẹ giết nhẹ, cho nên 'cù giáo diệt chỉ', là cùm chân lại. Răn đủ thì thôi, cho nên không nặng. Có lỗi mà không sửa mới gọi là lỗi. Răn nhỏ mà răn lớn, ấy là được phúc, cho nên 'vô cữu'. 'Giáo' là lấy gỗ mà cùm, tức là cái cùm; gọi là giáo là lấy tên chung."

Vương Bật chú hào Lục nhị: "Phệ là cắn. Kẻ cắn là nói việc hình phạt khắc phục. Ở giữa được ngôi, chỗ hình phạt đúng, cho nên nói 'phệ phu'. Cưỡi lên cương mà hình phạt, chưa hết đạo thuận, cắn quá phần mình, cho nên 'diệt tị'. Hình phạt trúng chỗ đáng ghét, cho nên tuy 'diệt tị' mà 'vô cữu'. 'Phu' là vật mềm yếu."

Vương Bật chú hào Lục tam: "Ở cuối hạ thể mà đạp lên ngôi không phải của mình, lấy thế mà ăn vật, vật ấy ắt cứng. Há chỉ cứng thôi sao? Sẽ gặp độc. 'Phệ' để ví việc hình người, 'tích' để ví sự không phục, 'độc' để ví oán sinh. Nhưng thừa tiếp hào bốn mà không cưỡi lên cương, tuy mất chính, hình phạt không xâm phạm kẻ thuận, cho nên tuy 'ngộ độc, tiểu lận' mà 'vô cữu'."

Vương Bật chú hào Cửu tứ: "Tuy là thể dương, làm chủ âm, ở không được giữa mà lại không đúng ngôi, lấy thế mà cắn vật, vật cũng không phục, cho nên nói 'phệ can tỉ'. Kim là cương, thỉ là thẳng. 'Phệ can tỉ' mà được cương thẳng, có thể lợi về gian nan giữ chính mà tốt, nhưng chưa đủ để hết đạo thông lý."

Vương Bật chú hào Lục ngũ: "Thịt khô là cứng. Vàng là giữa. Kim là cương. Lấy âm ở dương, lấy mềm cưỡi cương, lấy thế cắn vật, vật cũng không phục, cho nên nói 'phệ can nhục'. Nhưng ở ngôi tôn, lấy mềm cưỡi cương mà ở giữa, có thể thi hành sự giết chóc. Ở ngôi không chính mà có thể thi hành sự giết chóc, là kẻ cương thắng. Cắn tuy không phục, được giữa mà thắng, cho nên nói 'phệ can nhục đắc hoàng kim'. Mình tuy không chính mà hình phạt đúng, cho nên tuy 'trinh lệ' mà 'vô cữu'."

Vương Bật chú hào Thượng cửu: "Ở chỗ cực của hình phạt, là kẻ ác tích mà không sửa. Tội không phải chỗ răn, cho nên hình phạt đến đầu, đến 'diệt nhĩ'; đến đầu thì không phải răn, 'diệt nhĩ' thì không phải răn, hung không gì hơn."

Chu Hy (Chu Dịch bản nghĩa) chú trên quái từ: "Phệ là cắn, Hạp là khép. Vật có khe hở thì cắn mà khép lại. Làm quẻ, trên dưới hai dương mà giữa trống, thuận theo tượng cái miệng; hào Cửu tứ một dương xen vào giữa, ắt phải cắn rồi sau mới khép, cho nên là Phệ Hạp. Chỗ chiếm của nó đáng được hanh thông, vì có khe hở nên không thông, cắn mà khép lại thì hanh thông. Lại ba âm ba dương, cương nhu nửa nửa, dưới động trên sáng, dưới sấm trên chớp, vốn từ quẻ Ích hào Lục tứ mềm đi lên đến hào năm mà được giữa, cho nên lấy âm ở dương, tuy không đúng ngôi mà lợi về việc ngục. Đại để đạo trị ngục chỉ có uy và sáng mà được giữa là quý; cho nên kẻ bói được quẻ này có đức ấy thì ứng với chỗ chiếm của nó."

Chu Hy chú hào Sơ cửu: "Sơ và thượng không ngôi là tượng chịu hình; bốn hào giữa là tượng dùng hình. Sơ ở đầu quẻ, tội mỏng lỗi nhỏ, lại ở dưới quẻ, cho nên là tượng 'cù giáo diệt chỉ'. Ngăn ác từ đầu cho nên được vô cữu; kẻ bói thấy thương nhỏ mà vô cữu."

Chu Hy chú hào Lục nhị: "Tế có đỉnh thịt, ấy là thịt mềm yếu, cắn dễ khép. Lục nhị trung chính, cho nên chỗ trị của nó như cắn thịt dễ; nhưng lấy mềm cưỡi cương, cho nên tuy rất dễ cũng không khỏi bị thương diệt mũi; kẻ bói tuy thương mà cuối cùng vô cữu."

Chu Hy chú hào Lục tam: "Thịt khô là thịt thú khô cả xương, vật cứng rắn. Âm nhu không trung chính, trị người mà người không phục, là tượng cắn thịt khô gặp độc; kẻ bói tuy hơi tiếc, nhưng thời đang Phệ Hạp, về nghĩa là vô cữu."

Chu Hy chú hào Cửu tứ: "Phệ là thịt dính xương, thông với chữ 'tự'. Chu Lễ, ngục tụng nộp một quân kim và bó tên rồi sau nghe. Cửu tứ lấy cương ở nhu, được đạo dùng hình, cho nên có tượng này; nói chỗ cắn càng cứng mà được việc nghe kiện thích hợp. Nhưng ắt lợi về gian nan chính cố thì tốt, răn kẻ bói nên như thế."

Chu Hy chú hào Lục ngũ: "Cắn thịt khô khó hơn da mà dễ hơn thịt khô dính xương. Vàng là màu giữa, kim cũng gọi là quân kim. Lục ngũ mềm thuận mà giữa, ở ngôi tôn, dùng hình với người mà người không ai không phục, cho nên có tượng này; nhưng ắt trinh lệ mới được vô cữu, cũng là lời răn kẻ bói."

Chu Hy chú hào Thượng cửu: "Hà là mang. Dương quá cực ở trên quẻ, ác cực tội lớn, ấy là đạo hung, cho nên tượng chiếm của nó như thế."

Theo cách hiểu của Nhật Nguyệt, quẻ Phệ Hạp gợi mở điều gì?

Theo cách hiểu của Nhật Nguyệt, hình tượng trung tâm của quẻ là một vật nằm chắn giữa hai hàm răng, khiến miệng không khép lại được; phải cắn vật ấy thì miệng mới khép, sự việc mới thông. Quái từ chép "hanh, lợi dụng ngục" và Đại Tượng truyện chép "tiên vương dĩ minh phạt sắc pháp", cho nên truyền thống gắn quẻ này với việc làm rõ phép tắc, thưởng phạt phân minh. Đây là cách đọc trong khuôn khổ Kinh Dịch, không phải lời hứa về kết quả cụ thể cho một người cụ thể.

Sáu hào từ vẽ ra một thang bậc từ nhẹ tới nặng: hào Sơ cửu là cùm chân, ngăn lỗi từ lúc nhỏ; hào Lục nhị là cắn da mềm, xử việc dễ mà vẫn quá tay; hào Lục tam là cắn thịt khô gặp độc, tức việc khó sinh oán; hào Cửu tứ là cắn thịt khô dính xương, được mũi tên vàng, phải gian nan giữ chính; hào Lục ngũ là cắn thịt khô được vàng, tuy nguy mà không lỗi; hào Thượng cửu là mang gông tới tai, hung. Vương Bật chú và Chu Hy chú đều đọc chuỗi này như một tiến trình của việc dùng hình, chỗ nhẹ thì răn sớm, chỗ nặng thì phải cẩn trọng.

Hào từ mang chuẩn mực xã hội thời xưa, như chuyện gông cùm, ngục tụng, vua tôi, nên đọc như bối cảnh lịch sử của thời Chu, không chuyển thẳng thành lời khuyên cho đời nay. Chỗ Vương Bật và Chu Hy khác nhau, như hào Lục tam có chữ "tích" hay "tịch" và cách hiểu "ngộ độc", nên nói rõ cả hai bên mà không gộp làm một.

Gặp quẻ Phệ Hạp khi hỏi việc làm thì nên hiểu thế nào?

Gợi ý của Nhật Nguyệt: khi công việc có một chỗ vướng nằm chắn giữa, nên xác định đúng chỗ vướng ấy và xử lý sớm, đừng để nó nằm lại lâu. Quái từ chép "lợi dụng ngục" và Đại Tượng truyện chép "minh phạt sắc pháp", nên tinh thần dễ thấy là làm rõ quy tắc và giữ sự minh bạch, chứ không phải dùng sức mạnh tùy tiện.

Gặp quẻ Phệ Hạp khi hỏi tình cảm thì nên hiểu thế nào?

Gợi ý của Nhật Nguyệt: nếu có hiểu lầm hay một điều chắn giữa hai người, nên nói thẳng để gỡ chỗ chắn ấy, thay vì để nó tích lại. Hào Lục tam là cắn thịt khô gặp độc, tức việc khó có thể sinh oán, nên lời dẫn ấy nhắc giữ lời nói ở mức vừa phải. Đây là gợi ý để tự soi, không phải lời đoán kết cục cho một mối quan hệ cụ thể.

Gặp quẻ Phệ Hạp khi hỏi tiền bạc thì nên hiểu thế nào?

Gợi ý của Nhật Nguyệt: hào Cửu tứ chép "đắc kim thỉ" và hào Lục ngũ chép "đắc hoàng kim", nhưng cả hai hào đều kèm điều kiện gian nan giữ chính hoặc trinh lệ, nên đọc là lời nhắc giữ sự rõ ràng trong giấy tờ, hợp đồng, chứ không phải lời hứa có lợi. Không nên dùng quẻ để quyết định một khoản đầu tư cụ thể.

Gặp quẻ Phệ Hạp khi hỏi sức khỏe thì nên hiểu thế nào?

Gợi ý của Nhật Nguyệt: quẻ này không nói về bệnh tật, cho nên không dùng nó để đoán bệnh. Gợi ý của Nhật Nguyệt: Nếu thân có chỗ khó chịu kéo dài, việc nên làm là đi khám, còn việc giữ nếp sinh hoạt và xử lý sớm chỗ bất ổn cũng đáng lưu tâm.

Gặp quẻ Phệ Hạp khi hỏi việc lãnh đạo thì nên hiểu thế nào?

Gợi ý của Nhật Nguyệt: Đại Tượng truyện chép "tiên vương dĩ minh phạt sắc pháp", nên phần dễ thấy là làm rõ quy tắc và giữ sự công minh. Hào Lục nhị và hào Lục ngũ đều cho thấy người xử việc có thể quá tay hoặc gặp nguy, nên cẩn trọng trước khi kết luận về người khác. Đây là gợi ý về cách hành xử, không phải lời bảo đảm cho kết quả.

Bảng tra cứu nhanh: quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp

Khía cạnhNội dung
Số thứ tự trong 64 quẻ21
Tên chữ Hán噬嗑
Ký hiệu䷔
Tên tiếng AnhBiting Through
Quẻ thượng (ngoại quái)Ly (Lửa), hành Hỏa, phương Nam
Quẻ hạ (nội quái)Chấn (Sấm), hành Mộc, phương Đông
Sáu hào, hào sơ ở dướisơ dương, nhị âm, tam âm, tứ dương, ngũ âm, thượng dương
TượngSấm chớp cùng phát, cắn vỡ vật cản giữa hàm.
Luận giảiTượng cho việc xử lý dứt điểm một trở ngại nằm chắn ở giữa. Truyền thống gắn quẻ này với phép tắc rõ ràng, thưởng phạt phân minh. Né tránh chỉ khiến chỗ vướng nằm lại lâu hơn.

Số liệu trong bảng khớp với kết quả các công cụ tra cứu trên Nhật Nguyệt.

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp là quẻ tốt hay xấu?

Quẻ Phệ Hạp không hoàn toàn tốt hay xấu mà mang ý nghĩa về một quá trình. Quẻ cho thấy thời điểm cần phải dùng hành động cương quyết, pháp chế để xử lý trở ngại, gian tà. Kết quả có thể tốt đẹp (hanh thông) nếu hành động công minh, đúng lúc. Nếu xử lý sai, vội vàng hoặc ngoan cố, kết quả có thể là hung hiểm. Gợi ý của Nhật Nguyệt: nên đối mặt và giải quyết vấn đề một cách triệt để, có nguyên tắc.

Gợi ý của Nhật Nguyệt: khi công việc gặp khó khăn, nên cắn thẳng vào vấn đề, xử lý dứt khoát, không né tránh?

Gợi ý của Nhật Nguyệt: Trong công việc, khi gặp bế tắc, bạn không nên trì hoãn hay né tránh. Hãy xác định rõ nguyên nhân cốt lõi của vấn đề (vật cản) và sử dụng các biện pháp rõ ràng, dứt khoát, có thể là mạnh mẽ để giải quyết. Sự kết hợp giữa sáng suốt trong phân tích (Hỏa) và hành động quyết liệt (Lôi) sẽ giúp phá vỡ thế bế tắc và đưa công việc trở lại quỹ đạo. Cần thận trọng và công minh để tránh tạo ra sai lầm mới.

Làm thế nào để hiểu và ứng dụng quẻ Phệ Hạp một cách đúng đắn?

Gợi ý của Nhật Nguyệt: Để hiểu và ứng dụng đúng quẻ Phệ Hạp, trước tiên hãy xem nó như một lời khuyên về chiến lược hành động, không phải là một lời tiên đoán cố định.. Hãy xem xét bối cảnh cụ thể của bạn, đối chiếu với ý nghĩa của từng hào để rút ra bài học phù hợp (ví dụ: nên ngăn chặn sớm, cần cương quyết hay nên thận trọng). Trọng tâm là rèn luyện sự công minh, sáng suốt và dũng cảm đối diện với vấn đề, từ đó chủ động đưa ra quyết định đúng đắn.

Bài này thuộc chủ đề Kinh Dịch. Xem toàn bộ tiện ích và bài viết về Kinh Dịch.

Đọc tiếp

64 quẻ · Quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. Ngô Tất Tố (dịch và chú giải), Kinh Dịch
  2. Richard Wilhelm và Cary F. Baynes (dịch), I Ching or Book of Changes, Princeton University Press (1950)
  3. Chu Dịch, quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp (噬嗑), kèm Thoán truyện và Tượng truyện, bản chữ Hán Wikisource
  4. Vương Bật chú, Khổng Dĩnh Đạt sớ, Chu Dịch chính nghĩa, quẻ 噬嗑 (bản Wikisource)
  5. Chu Hy, Chu Dịch bản nghĩa (bản Tứ khố toàn thư, Wikisource)
#KinhDịch#QuẻHỏaLôiPhệHạp#64Quẻ#PhệHạp#BóiToán#TriếtLýPhươngĐông#PhápChế