Vì sao lượng người hành hương núi Sam tăng mạnh thời Đổi Mới?
Loại tri thức: Trường phái: Philip TaylorDiễn giải trường phái. Cách hiểu của một phái hay một cuốn sách; phái khác có thể hiểu khác. Năm loại nhãnCâu trả lời ngắn: theo công trình thực địa nhiều năm của nhà nhân học Philip Taylor, sự bùng nổ hành hương tới miếu Bà Chúa Xứ núi Sam gắn chặt với kinh tế thị trường thời Đổi Mới. Người buôn bán, tiểu thương tìm tới Bà để xin lộc, xem đó như một khoản vốn thiêng vay trước, trong một môi trường làm ăn nhiều rủi ro và ít lưới an sinh. Taylor gọi hiện tượng này là "Nữ thần lên ngôi": đúng vào lúc nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, tín ngưỡng dân gian không lùi đi mà nở rộ.
Cần nói ngay một giới hạn của bằng chứng: hiện không có số liệu lượt khách theo từng năm trong các tài liệu đã dẫn, nên bài này không đưa con số lượt khách. Điều khẳng định được là xu hướng tăng và gắn với thời điểm Đổi Mới, chứ không phải một con số cụ thể.
'Vay lộc' và 'trả lễ' vận hành theo logic nào?
Loại tri thức: Dân gianQuan niệm dân gian. Điều người ta tin, kiêng hay truyền miệng, ghi lại như một niềm tin chứ không như một sự thật đã kiểm. Năm loại nhãnTrong thực hành của người đi lễ, "vay lộc" là xin Bà cho mượn trước một phần may mắn, vốn liếng, cơ hội làm ăn; khi việc hanh thông thì quay lại "trả lễ" bằng heo quay, xôi, hoa quả, tiền công đức, có khi là một khoản lớn hơn nhiều so với lễ vật ban đầu. Đây là một quan hệ trao đổi hai chiều: người đi lễ không chỉ cầu xin, họ còn cam kết hoàn trả.
Loại tri thức: Trường phái: Philip TaylorDiễn giải trường phái. Cách hiểu của một phái hay một cuốn sách; phái khác có thể hiểu khác. Năm loại nhãnTaylor phân tích logic này như một dạng hợp đồng ngầm: khoản vay không lãi suất cố định nhưng có nghĩa vụ đạo đức phải trả, và chính nghĩa vụ ấy khiến quan hệ với Bà bền chặt qua nhiều năm. Người ta không tới một lần rồi thôi; họ tới, vay, trả, rồi lại vay tiếp khi mở thêm vụ làm ăn mới.
Điểm đáng chú ý: lễ vật mang tính kinh tế rõ rệt. Một số trang tra cứu và quan niệm dân gian ở Nam Bộ mô tả lễ vật dâng Bà gồm heo quay, gà, xôi, trái cây, và tiền công đức, tức là những thứ quy đổi được thành giá trị tiền tệ. Loại tri thức: Dân gianQuan niệm dân gian. Điều người ta tin, kiêng hay truyền miệng, ghi lại như một niềm tin chứ không như một sự thật đã kiểm. Năm loại nhãnNgười đi lễ tin rằng dâng càng hậu thì nhận lại càng nhiều, và đây là niềm tin có thật, có sức chi phối hành vi, chứ không phải một nghi thức hình thức.
Các nhà nghiên cứu diễn giải Bà khác nhau thế nào?
Loại tri thức: Trường phái: Philip TaylorDiễn giải trường phái. Cách hiểu của một phái hay một cuốn sách; phái khác có thể hiểu khác. Năm loại nhãnTrong bài "The Goddess, the Ethnologist, the Folklorist and the Cadre" (2003), Taylor chỉ ra rằng cùng một hiện tượng thờ Bà Chúa Xứ nhưng mỗi nhóm người diễn giải theo một lăng kính gắn với vị trí xã hội của họ. Nhà dân tộc học (ethnologist) nhìn Bà qua lăng kính cấu trúc xã hội và tín ngưỡng địa phương; nhà văn hoá dân gian (folklorist) tìm nguồn gốc truyền thuyết, mô típ dân gian; cán bộ quản lý văn hoá (cadre) nhìn Bà qua lăng kính di sản, quản lý nhà nước và phát triển du lịch.
Taylor cho rằng mỗi cách diễn giải đều có giá trị riêng nhưng không cách nào là "đúng" tuyệt đối, vì chúng xuất phát từ những vị trí quan sát khác nhau. Đây là một luận điểm quan trọng: thay vì đi tìm một định nghĩa chuẩn về Bà Chúa Xứ, cần hỏi ai đang nói, nói từ đâu, và nhằm mục đích gì.
Với tác giả, cách diễn giải của chính người đi lễ, tức là những người buôn bán tới vay lộc, thường bị xếp sau các diễn giải học thuật và quản lý. Taylor đề nghị đặt tiếng nói của người thực hành lên ngang hàng, vì chính họ mới là chủ thể tạo nên sức sống của tín ngưỡng.
Từ miếu làng tới di sản UNESCO 2024 và du lịch
Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam được UNESCO ghi danh vào Danh sách di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại tại kỳ họp thứ 19 năm 2024, với quyết định 19.COM 7.B.16. Hồ sơ đề cử của Nhà nước Việt Nam mô tả lễ hội gắn với miếu Bà Chúa Xứ, một trung tâm hành hương của cư dân Nam Bộ.
Trước đó, nghiên cứu của Hồ Thị Đào và Nguyễn Quốc Bình (2021) chỉ ra rằng tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ đã được các nhà lãnh đạo, nhà quản lý và doanh nghiệp khai thác như một sản phẩm du lịch đặc thù của An Giang. Theo nhận định của tác giả, đời sống tâm linh của người dân An Giang không thể thiếu tín ngưỡng này, và nó cũng đóng góp nguồn lực cho ngành du lịch phát triển.
Vào năm 2020, Phạm Xuân Hậu và Nguyễn Thị Diễm Tuyết đã thực hiện khảo sát ý kiến du khách về các hoạt động tâm linh ở miếu Bà Chúa Xứ, từ đó kiến nghị những giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá trong các hoạt động tâm linh phục vụ du lịch. Về kết quả, các hoạt động tâm linh tại miếu đòi hỏi phải được đầu tư thêm, song song với việc bảo quản và tu bổ cơ sở vật chất, nếu muốn duy trì hoạt động và tiếp tục thu hút du khách. Bên cạnh đó, nhóm tác giả cũng chỉ ra rằng trong những giai đoạn cao điểm, khi nhu cầu của du khách đông đảo tạo áp lực, vẫn còn một số hoạt động phản cảm khiến sức hút đối với du khách bị giảm sút.
Như vậy, từ một miếu làng nhỏ, Bà Chúa Xứ đã đi qua ba tầng: tín ngưỡng dân gian địa phương, điểm hành hương quy mô vùng, và di sản được quốc tế công nhận. Mỗi tầng bổ sung thêm một lớp chức năng mới cho cùng một không gian thờ tự.
So sánh với thần linh 'đòi tiền' ở Hàn Quốc
Loại tri thức: Trường phái: Laurel KendallDiễn giải trường phái. Cách hiểu của một phái hay một cuốn sách; phái khác có thể hiểu khác. Năm loại nhãnNhà nhân học Laurel Kendall (2011) so sánh tiêu dùng đồ cúng ở Hàn Quốc và Việt Nam, và nhận thấy một mẫu hình chung: khi nền kinh tế thị trường mở rộng, quan hệ với thần linh cũng mang tính thị trường hơn, với lễ vật, tiền công đức và kỳ vọng hoàn vốn. Ở Hàn Quốc, một số vị thần được mô tả như "đòi tiền", tức là người ta tin rằng thần có thể gây áp lực buộc phải dâng cúng nhiều hơn.
Kendall lưu ý rằng hiện tượng này không phải là "thương mại hoá" theo nghĩa xấu, mà là cách con người đưa logic kinh tế vào quan hệ với thế giới thiêng. Người ta không ngừng tin; họ tái cấu trúc niềm tin cho phù hợp với đời sống kinh tế mới.
Loại tri thức: Chưa đủ bằng chứngChưa đủ bằng chứng. Có người nêu, nhưng chưa có nguồn hay nghiên cứu đủ để khẳng định. Năm loại nhãnCần nói rõ phạm vi dữ liệu: so sánh của Kendall dựa trên quan sát ở Hàn Quốc và Việt Nam, không phải một nghiên cứu đại diện cho toàn bộ người Việt. Kết quả này gợi ý một hướng giải thích, không phải một quy luật áp dụng chung.
Bảng: các nghiên cứu và điều chúng chứng minh
| Nghiên cứu | Phạm vi dữ liệu | Kết quả chính |
|---|---|---|
| Philip Taylor (2004), Goddess on the Rise | Thực địa nhiều năm tại núi Sam và Nam Bộ | Hành hương bùng nổ cùng kinh tế thị trường; người buôn bán vay lộc Bà như vốn thiêng |
| Philip Taylor (2003), The Goddess, the Ethnologist, the Folklorist and the Cadre | Phân tích tài liệu và quan sát | Các lối diễn giải Bà gắn với vị trí người nói |
| Hồ Thị Đào và Nguyễn Quốc Bình (2021), Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp | Nghiên cứu tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ Núi Sam | Tín ngưỡng được khai thác như sản phẩm du lịch đặc thù của An Giang |
| Phạm Xuân Hậu và Nguyễn Thị Diễm Tuyết (2020), Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TP.HCM | Khảo sát 200 du khách (160 nội địa, 40 nước ngoài) | Hoạt động tâm linh cần đầu tư hơn; có hoạt động phản cảm thời cao điểm |
| Laurel Kendall (2011), Gods, Gifts, Markets, and Superstition | So sánh Hàn Quốc và Việt Nam | Quan hệ với thần linh mang tính thị trường hơn khi kinh tế thị trường mở rộng |
| UNESCO (2024), Nomination file No. 01999 | Hồ sơ đề cử di sản | Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ được ghi danh năm 2024 |
Vậy tín ngưỡng có lùi đi khi kinh tế thị trường tới?
Không. Bằng chứng từ nhiều nghiên cứu cho thấy điều ngược lại: tín ngưỡng dân gian nở rộ đúng vào lúc kinh tế thị trường mở rộng. Điều thay đổi là chức năng của tín ngưỡng. Trước đây, miếu Bà gắn với cầu an, cầu mùa, cầu bình yên cho cộng đồng cư dân nông nghiệp. Khi kinh tế chuyển sang thị trường, miếu Bà trở thành nơi cầu vốn, cầu cơ hội làm ăn, cầu may mắn trong kinh doanh.
Loại tri thức: Chưa đủ bằng chứngChưa đủ bằng chứng. Có người nêu, nhưng chưa có nguồn hay nghiên cứu đủ để khẳng định. Năm loại nhãnNhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Thu (2019) cũng nhận thấy tín ngưỡng thờ Mẫu ở đồng bằng sông Hồng đã chuyển từ gắn với kinh tế nông nghiệp sang phản ánh kinh tế hàng hoá, với vai trò của thương nhân ngày càng rõ. Đây là một mẫu hình không chỉ ở Nam Bộ mà còn ở miền Bắc.
Cần phân biệt hai điều: một là niềm tin của người đi lễ, hai là hiệu quả kinh tế của niềm tin ấy. Nghiên cứu nhân học không khẳng định Bà có linh hay không, cũng không phủ nhận. Điều nghiên cứu chỉ ra là niềm tin có thật, và niềm tin ấy thay đổi hành vi: người ta đi lễ, dâng cúng, kết nối với cộng đồng thương nhân, tạo dựng uy tín, và từ đó có thể tạo ra kết quả kinh tế thật. Đây là hiệu ứng có thật sinh ra từ niềm tin, không phải bằng chứng rằng thần linh đã đáp lời.
Những chỗ bằng chứng còn thiếu
Không có số liệu lượt khách hành hương theo từng năm trong các nguồn đã dẫn. Vì vậy, không thể nói chính xác mức tăng là bao nhiêu phần trăm hay bao nhiêu lượt mỗi năm.
Loại tri thức: Chưa đủ bằng chứngChưa đủ bằng chứng. Có người nêu, nhưng chưa có nguồn hay nghiên cứu đủ để khẳng định. Năm loại nhãnChưa có nghiên cứu định lượng quy mô lớn về tác động của niềm tin "vay lộc" tới kết quả kinh doanh thực tế của người đi lễ. Các nghiên cứu hiện có chủ yếu là quan sát tham dự và phỏng vấn sâu.
So sánh của Kendall (2011) dựa trên quan sát ở Hàn Quốc và Việt Nam, không phải một mẫu đại diện cho toàn bộ người Việt. Kết quả không nên suy rộng cho mọi nhóm người Việt khi chưa có nghiên cứu trên chính nhóm ấy.
