
TL;DR: Bài văn khấn ngày giỗ truyền thống thường có bốn phần: mở đầu lễ Phật và các vị thần, thông tin tín chủ, lời mời tổ tiên và người được giỗ, rồi lời cầu nguyện kết thúc. Cách xưng hô theo vai vế dựa trên cặp khảo (đàn ông) và tỷ (đàn bà), với các bậc cao tằng tổ, tằng tổ, tổ, hiển tương ứng đời thứ năm, thứ tư, thứ ba và cha mẹ. Tuy nhiên không có một bản chuẩn duy nhất, mỗi sách văn khấn in một bài khác nhau, gia đình chọn bài hợp với nếp nhà.
Văn khấn ngày giỗ là gì và vì sao phải có?
Văn khấn ngày giỗ là lời nói nghi lễ đọc trước bàn thờ trong dịp giỗ, dùng để mời tổ tiên và người được giỗ về hưởng lễ vật, đồng thời trình báo với thần linh cai quản nơi thờ tự. Trong quan niệm dân gian, lễ vật dù đầy đủ đến đâu mà con cháu không thỉnh mời thì người khuất cũng không phối hưởng, nên lời khấn được xem là phần bắt buộc của nghi lễ chứ không phải nghi thức phụ. Điều này được Toan Ánh ghi lại trong tác phẩm về nếp cũ: cỗ bàn dù linh đình, đồ lễ dù trang trọng, nếu con cháu chỉ đặt lên bàn thờ không thỉnh mời thì các cụ không về hưởng[2].
Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục (in lần đầu năm 1915) đã mô tả ngày giỗ cụ kỵ, ông bà, cha mẹ gọi là ngày kỵ nhật; chiều hôm trước là cúng tiên thường, hôm sau mới là ngày chính kỵ[3]. Sách này cũng cho biết tục lệ sắm lễ tùy theo vai vế người được giỗ: giỗ xa thì sắm con gà, ván xôi hoặc vài mâm cỗ, trước cúng gia tiên sau con cháu sum họp ăn uống; giỗ cha mẹ thì tục thường làm phong hơn[3].
Cấu trúc một bài văn khấn ngày giỗ gồm những phần nào?
Một bài văn khấn ngày giỗ truyền thống thường có bốn phần nối tiếp nhau. Phần thứ nhất là nghi thức mở đầu, gồm niệm danh hiệu Phật và kính lạy các vị thần linh, bao gồm Đức Hoàng thiên Hậu Thổ, ngài Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân và các vị Thần linh, Thổ địa cai quản trong xứ[1]. Phần thứ hai trình bày thông tin tín chủ: hôm nay là ngày tháng năm nào, tín chủ tên gì, ngụ tại đâu[1]. Phần thứ ba là lời mời: kính mời các vị thần linh chứng giám, kính thỉnh tổ tiên nội ngoại và vong linh người được giỗ về hâm hưởng[1]. Phần thứ tư là lời cầu nguyện cho gia đình an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, kết thúc bằng niệm Phật[1].
Vì sao phải khấn Thổ công trước rồi mới khấn gia tiên?
Theo sách Văn khấn cổ truyền Việt Nam, trong cúng cáo giỗ phải cúng Công thần Thổ địa trước, cúng gia tiên sau[1]. Lý do được sách này giải thích là để báo với Thần linh, Thổ địa nơi để mộ người đã khuất, cũng như Công thần Thổ địa tại gia cho phép hương hồn người đã khuất được về hưởng giỗ[1]. Ngoài việc khấn mời vong linh người được giỗ ngày hôm sau, còn phải khấn mời vong linh hương hồn gia tiên nội ngoại[1].
Trong bài khấn gia tiên ngày giỗ theo sách này, sau khi khấn mời tổ tiên và người được giỗ, tín chủ còn kính mời ngài Thổ công, Táo quân và chư vị linh thần đồng lai giám cách thượng hưởng, rồi mời các vị vong linh tiền chủ, hậu chủ nhà này, đất này cùng tới hâm hưởng[1]. Như vậy thứ tự khấn không chỉ là Thổ công trước gia tiên mà còn bao gồm cả các vong linh chủ đất cũ, phản ánh quan niệm về nhiều tầng lớp thần linh và hương linh cùng hiện diện trong không gian thờ tự.
Xưng hô theo vai vế trong bài khấn giỗ như thế nào?
Cách xưng hô theo vai vế dựa trên cặp khảo và tỷ: đàn ông khấn chữ khảo, đàn bà khấn chữ tỷ[2]. Toan Ánh trong tác phẩm về nếp cũ đã liệt kê các bậc xưng hô như sau: cao tằng tổ khảo là kỵ ông, đối với người khấn là năm đời; cao tằng tổ tỷ là kỵ bà; tằng tổ khảo là cụ ông, bốn đời, người khấn là chắt; tằng tổ tỷ là cụ bà; tổ khảo là ông, ba đời, người khấn là cháu; tổ tỷ là bà; hiển khảo là cha; hiển tỷ là mẹ[2].
| Bậc xưng hô | Giới tính | Vai vế với người khấn | Số đời |
|---|---|---|---|
| Cao tằng tổ khảo | Ông | Kỵ | Năm đời |
| Cao tằng tổ tỷ | Bà | Kỵ | Năm đời |
| Tằng tổ khảo | Ông | Cụ | Bốn đời |
| Tằng tổ tỷ | Bà | Cụ | Bốn đời |
| Tổ khảo | Ông | Ông | Ba đời |
| Tổ tỷ | Bà | Bà | Ba đời |
| Hiển khảo | Cha | Cha | Hai đời |
| Hiển tỷ | Mẹ | Mẹ | Hai đời |
Toan Ánh cũng cho biết kể từ đời thứ sáu trở đi con cháu không phải cúng giỗ nữa[2]. Sách Văn khấn cổ truyền Việt Nam có cách gọi khác cho ngày giỗ: ngày giỗ thường còn được gọi là Cát kỵ, là ngày giỗ của người quá cố kể từ năm thứ ba trở đi, được duy trì đến hết năm đời[1]. Sách này giải thích ngoài năm đời, người ta tin rằng vong linh người quá cố đã siêu thoát hay đã đi đầu thai trở lại nên không cần thiết phải cúng giỗ nữa[1].
Vì sao khi khấn tên người chết phải khấn rất khẽ?
Toan Ánh ghi lại một quy tắc quan trọng: khi khấn đến tên người chết, phải khấn lâm râm rất khẽ trong miệng để tỏ lòng thành kính, vì người xưa kính trọng ai không bao giờ đọc tới tên người đó[2].
Cũng theo Toan Ánh, khấn giỗ cần khấn hết tên tục, tên hiệu, tên hèm của người hưởng giỗ[2]. Tác giả giải thích tên tục là tên lúc sống vẫn gọi, tên hiệu là biệt hiệu, còn tên hèm tức là tên thụy, tên khi người chết hấp hối tự đặt cho mình để sau này con cháu khi cúng thì khấn tới[2]. Việc khấn đủ các tên này được xem là cách định danh chính xác người được mời về hưởng lễ.
Các dị bản và điểm không thống nhất giữa các nguồn
Các nguồn không hoàn toàn thống nhất về chi tiết nghi lễ. Sách Văn khấn cổ truyền Việt Nam trình bày bài khấn Thổ thần, Táo quân, Long mạch và các vị Thần linh riêng với bài khấn gia tiên ngày giỗ, trong đó bài khấn thần linh có lời kính thỉnh các tiên linh, gia tiên và những vong hồn nội tộc được thờ phụng cùng về hâm hưởng[1]. Toan Ánh lại nhấn mạnh thứ tự khấn mời tổ tiên phối hưởng và việc phân biệt các hàng kỵ, cụ, ông bà, cha mẹ trong lời khấn[2].
Về thời điểm cúng, Phan Kế Bính ghi chiều hôm trước là cúng tiên thường, hôm sau mới là ngày chính kỵ[3]; sách Văn khấn cổ truyền Việt Nam cũng nói đối với ngày giỗ trọng (giỗ của ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng) thì một hôm trước ngày giỗ cần có cúng cáo giỗ, hay còn gọi là ngày tiên thường[1]. Hai nguồn khớp nhau cả về tên gọi tiên thường lẫn thời điểm.
Về phạm vi cúng giỗ, Phan Kế Bính cũng ghi nhận một tục lệ đặc biệt: môn sinh để tâm tang thầy học ba năm, tức để tang trong lòng, không mặc tang phục; sau đó, cứ đến ngày giỗ thầy hoặc vợ thầy hằng năm, đồng môn phải sắm lễ mang tới lễ giỗ. Trường hợp nhà thầy sa sút, không còn ai kế tự, đồng môn sẽ tụ họp tại nhà Trưởng tràng để cử hành lễ giỗ thầy và vợ thầy, duy trì việc giữ giỗ cho tới hết đời thì thôi[3]. Đây là một phạm vi cúng giỗ ngoài gia đình, cho thấy nghi lễ giỗ không chỉ giới hạn trong quan hệ huyết thống.
Nghi thức hóa vàng và kết thúc ngày giỗ
Theo Toan Ánh, cho đến khi hóa vàng, ngày giỗ mới kể là xong[2]. Hóa vàng còn gọi là nấu vàng, tức là đem đốt những vàng mã, vàng nghìn hoặc vàng giấy của con cháu gửi giỗ hoặc khách khứa mang tới[2]. Tác giả cũng cho biết phải kể cả những tấm hàng, những cuộn giấy đủ màu tượng trưng cho những tấm vải con cháu đã mua cúng trong ngày giỗ, cũng được hóa cùng với vàng mã[2].
Lúc hóa vàng, con cháu đổ vào đống lửa một chén rượu cúng, chén rượu này theo các cụ cốt để biến những vàng mã giấy trên dương gian thành vàng thật, đồ dùng thật dưới âm phủ[2]. Người ta lại còn thường hơ một chiếc đòn gánh hoặc một chiếc gậy để gánh vàng mã về cõi âm[2]. Sau khi hóa vàng, hương đèn trên bàn thờ không cần giữ cháy nữa, vì hương hồn người khuất đã trở lại cõi âm để tiếp tục sống cuộc sống ở Hoàng tuyền cho tới ngày giỗ năm sau[2].
Trong ngày giỗ, sau khi khấn giỗ xong, phải buông chiếc y môn tức là bức màn thờ xuống để các cụ hưởng lễ[2]. Toan Ánh cũng ghi lại câu nói dân gian đói ngày giỗ cha, no ba ngày Tết để phản ánh sự vất vả của gia trưởng và con cháu trong suốt ngày giỗ, nào phần đáp lễ, nào phần tiếp khách, nhiều khi không có cả thì giờ ăn uống[2].
Gợi ý của Nhật Nguyệt khi soạn bài khấn cho gia đình
Khi soạn bài khấn cho gia đình, người viết có thể dựa trên cấu trúc bốn phần nêu trên và điều chỉnh cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể. Nếu gia đình có truyền thống thờ Phật, giữ phần niệm Phật ở đầu và cuối; nếu chỉ thờ gia tiên, có thể lược bớt phần Phật giáo và giữ phần kính lạy thần linh, Thổ địa. Phần thông tin tín chủ nên ghi rõ ngày tháng năm âm lịch, tên người khấn, địa chỉ nơi thờ tự. Phần mời nên phân biệt rõ người được giỗ chính và các vị tổ tiên nội ngoại, dùng đúng cặp khảo tỷ theo giới tính và vai vế. Phần cầu nguyện có thể thay đổi theo tình hình gia đình nhưng nên giữ lời cầu chung về an ninh khang thái, vạn sự tốt lành.
