
TL;DR: Hát xẩm là thể loại âm nhạc dân gian chuyên nghiệp, hình thành khoảng thế kỷ 14, từng được gọi là hát rong, hát dạo. Sân khấu của nghệ nhân xẩm là đường phố, gốc đa, bến nước, sân đình hoặc góc chợ quê, và riêng Hà Nội có dòng xẩm tàu điện hát trên các toa tàu điện đầu thế kỷ 20. Năm 2021, nghệ thuật hát xẩm ở Ninh Bình được đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Hát xẩm là gì và ra đời từ bao giờ?
Hát xẩm là một thể loại âm nhạc dân gian mang tính chuyên nghiệp, có lối diễn xướng riêng trong âm nhạc cổ truyền Việt Nam. Theo các tài liệu nghiên cứu được báo chí dẫn lại, loại hình này hình thành vào khoảng thế kỷ 14[1][2]. Cho tới nửa đầu thế kỷ 20, người ta còn gọi nó là hát rong, hát dạo[1][2].
Cần phân biệt hai tầng nghĩa thường bị lẫn. Trong quan niệm phổ thông, nhiều người hiểu xẩm là lối hát của người khiếm thị đi ăn xin. Thực tế, theo các tài liệu nghiên cứu, người khiếm thị đã dùng xẩm làm phương tiện kiếm sống, chứ không phải xẩm sinh ra chỉ để ăn xin[1][2]. Sân khấu của nghệ nhân xẩm chính là đường phố, gốc đa, bến nước, sân đình, hoặc đơn giản chỉ là một góc chợ quê nghèo[1][2].
Trong bài báo năm 2011, Phó Giáo sư Lê Đình Toàn, khi ấy là Viện trưởng Viện Âm nhạc Việt Nam, nhận định hát xẩm tuy khởi đầu là hình thức sinh hoạt âm nhạc dân gian nhưng đã trở thành loại hình nghệ thuật có đặc thù riêng, trong đó yếu tố dân dã được bồi tụ để mang tính chuyên nghiệp nhiều hơn, vì người hát xẩm dùng nghệ thuật này để kiếm sống[1]. Trong các loại hình âm nhạc truyền thống Việt Nam, có lẽ chỉ duy nhất hát xẩm được gọi với tư cách là một nghề để kiếm sống[1].
Các làn điệu xẩm và cách gọi tên
Nhà nghiên cứu dân gian Trần Việt Ngữ, trong tài liệu công bố năm 1964, xếp hát xẩm thành 8 làn điệu chính: Xẩm chợ; Xẩm xoan (còn gọi Chênh bong); Huê tình (riềm huê); Xẩm nhà trò (ba bậc); Nữ oán (Phồn huê); Hò bốn mùa; Hát ai; Thập ân[1].
Bài của VietnamPlus dẫn một cách thống kê khác: khoảng mười làn điệu và hơn 400 lời xẩm đã sưu tầm được, trong đó hay gặp là Xẩm Thập Ân, Xẩm Huê Tình, Xẩm Hà Liễu, Xẩm Ba Bậc, Xẩm Trống Quân, Xẩm Hò Khoan, Xẩm Phồn Huê, Xẩm Chợ, Xẩm Sai, Xẩm Ngâm Vịnh, Xẩm Tàu Điện và Hát Ai[2]. Hai con số khác nhau vì mỗi tài liệu phân loại và sưu tầm theo một cách.
Cách gọi tên các làn điệu xẩm rất đa dạng, phản ánh khả năng sinh sôi của loại hình này[2]:
- Theo không gian biểu diễn: Xẩm Chợ, Xẩm Tàu điện (còn gọi Xẩm Hà Nội), Xẩm Nhà trò.
- Theo mục đích bài xẩm: Xẩm Hò khoan.
- Theo nội dung hoặc tên bài xẩm nổi tiếng: Xẩm Thập Ân.
- Theo nguồn gốc: Xẩm Sai.
Cách gọi tên các bài xẩm còn đa dạng hơn: từ nhân vật lịch sử (Bà ba Cai Vàng), nhân vật trữ tình (Hỡi cô em yếm đỏ), thói hư tật xấu (Xẩm Thuốc phiện), đến hình ảnh biểu trưng (Lênh đênh mặt nước cánh bèo) đều có thể trở thành tên bài xẩm[2]. Mỗi bài xẩm có thể gồm một hoặc nhiều làn điệu kết hợp, tùy độ dài câu chuyện khi cần hát kể nhiều tình tiết hay trạng thái cảm xúc[2].
| Tiêu chí gọi tên | Ví dụ làn điệu hoặc bài xẩm |
|---|---|
| Không gian biểu diễn | Xẩm Chợ, Xẩm Tàu điện (Xẩm Hà Nội), Xẩm Nhà trò |
| Mục đích bài xẩm | Xẩm Hò khoan |
| Nội dung hoặc tên bài nổi tiếng | Xẩm Thập Ân, Xẩm Thuốc phiện |
| Nguồn gốc | Xẩm Sai |
| Nhân vật lịch sử | Bà ba Cai Vàng |
| Nhân vật trữ tình | Hỡi cô em yếm đỏ |
Xẩm tàu điện Hà Nội có gì đặc biệt?
Hà Nội có riêng một dòng xẩm tàu điện, gọi vậy vì người hát thường hát ngay trên tàu[1][2]. Dòng này có từ đầu thế kỷ 20, trong môi trường đô thị, khi người hát xẩm đi dọc các toa tàu điện để hát[2]. So với xẩm cổ, xẩm tàu điện là nhánh ra đời sau, nhịp nhanh và gọn hơn, hay lấy thơ của các thi sĩ có tiếng làm lời, như "Anh khóa", "Cô hàng nước" của Á Nam Trần Tuấn Khải hay "Giăng sáng vườn chè", "Em đi tỉnh về" của Nguyễn Bính[1][2].
Nghệ sĩ nhân dân Xuân Hoạch lý giải: "Mỗi bài Xẩm đều có nhịp điệu đu đưa ăn khớp với chu kỳ chao đảo và độ giật, lắc mỗi khi tàu phanh, nhờ thế mà át được tiếng ồn không hề dễ chịu của tàu điện."[2] Nhận định này cho thấy xẩm tàu điện không chỉ là chuyện đổi địa điểm biểu diễn, mà còn là sự thích nghi có ý thức của người hát trước điều kiện âm thanh đô thị.
Khi xưa, các nghệ nhân xẩm từ chốn thôn quê ra Hà Nội biểu diễn, để làm vừa lòng nhu cầu thẩm mỹ của người dân chốn đô thị, các gánh xẩm đã khéo léo lồng thơ của các thi sĩ vào các điệu xẩm, đưa xẩm trở thành loại hình âm nhạc đường phố độc đáo, góp phần tạo nên nét đặc sắc riêng của văn hóa phố phường Thăng Long, Hà Nội[1][2].
Vì sao các bộ môn khác phải vay mượn làn điệu xẩm?
Một số làn điệu xẩm hay tới mức chèo và ca trù cũng mượn về dùng, chẳng hạn Xẩm huê tình, Xẩm chợ, Xẩm xoan[1][2]. Khi đào nương, kép đàn đưa Xẩm huê tình vào lối hát ở ca quán, điệu ấy được gọi là Xẩm Cô đầu hay Xẩm Nhà trò[1][2].
Việc các nghệ sĩ giáo phường ca trù vẫn giữ chữ "Xẩm" ở làn điệu này cho thấy họ tôn trọng nghệ thuật xẩm và muốn chỉ rõ gốc gác của làn điệu[1][2]. Đây là một chi tiết quan trọng khi đánh giá vị thế của xẩm trong hệ thống âm nhạc cổ truyền: một loại hình bị xem là "của người nghèo" lại có ảnh hưởng ngược trở lại với những bộ môn thính phòng được coi là bác học hơn.
Bài báo năm 2011 còn nêu một nét riêng: hát về tình yêu hay về đấu tranh, dân vận, người hát xẩm đều kể chuyện bằng âm nhạc theo lối hóm hỉnh, dễ nghe, dễ nhớ[1]. Xẩm không chỉ hát ở chỗ đông người cho giới bình dân; giới trí thức, nhà nho cũng chuộng, và có hẳn một dòng xẩm thính phòng cho họ, gọi là Xẩm Nhà trò (hay Xẩm nhả tơ, Xẩm cô đầu)[1].
Nghề hát xẩm đã thăng trầm ra sao?
Hát xẩm thịnh nhất vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20[1][2]. Từ một thú giải trí lúc nông nhàn, xẩm khi ấy đã thành nghề mưu sinh của người nghèo ở thành thị, đời trước truyền cho đời sau[1][2]. Số người hát xẩm đông hơn cả là dưới thời Pháp thuộc và mấy năm đầu kháng chiến chống Pháp[1][2].
Tới giữa thế kỷ 20, nghề hát xẩm vẫn còn với các tên tuổi nghệ nhân tài ba như Nguyễn Văn Nguyên (tức cụ Trùm Nguyên), Vũ Đức Sắc ở Hà Nội; Thân Đức Chinh ở Bắc Giang; Nguyễn Phong Sắc ở Hải Dương; cụ Trùm Khoản ở Sơn Tây; cụ Chánh Trương Mậu ở Ninh Bình; cụ Đào Thị Mận ở Hưng Yên; cụ Trần Thị Nhớn ở Nam Định; Trần Thị Thìn, Nguyễn Văn Khôi ở Hà Đông[2]. Tên tỉnh ở đây là tên thời ấy, nhiều tỉnh nay đã sáp nhập. Danh sách này chỉ tính những người được ghi tên, bên cạnh đó còn nhiều nghệ nhân khuyết danh khác[2].
Từ những năm 1960, hoàn cảnh xã hội đổi khác, lại thêm những quan niệm sai lầm về xẩm, nên các phường xẩm tan dần rồi ngừng hẳn[2]. Lớp nghệ nhân có tiếng già đi và lần lượt qua đời, vốn nghề của họ cũng mất theo[2]. Nghệ nhân Hà Thị Cầu, vợ út của ông Chánh Trương Mậu (trùm xẩm đất Ninh Bình thuở trước), người được gọi là "người đàn bà hát xẩm cuối cùng của thế kỷ 20", qua đời năm 2013[2].
Xẩm xưa gắn với lúc nông nhàn: được mùa, nhà giàu có quyền thế hay mời gánh xẩm về hát tại nhà[1]. Người hát xẩm còn nhận hát theo lời mời ở đám cưới, đám ma, đám giỗ, có khi chỉ là được nhờ "đánh tiếng dùm" với một cô thôn nữ đứng bên đường[1][2].
Xẩm được dùng làm kênh truyền thông như thế nào?
Hát xẩm còn là một kênh đưa tin bằng tiếng hát[1][2]. Thời kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ đã có "xẩm địch vận"[1][2].
Nghệ nhân xẩm Minh Sen ở Thanh Hóa từng mang cây đàn nhị đi khắp mặt trận cầu Hàm Rồng, hát những lời hóm hỉnh để động viên bộ đội[1][2]. Bà Hà Thị Cầu không biết chữ mà vẫn đặt bài xẩm "Theo Đảng trọn đời" theo điệu thập ân[2]. Ông Vũ Đức Sắc có bài "Tiễu trừ giặc dốt" hưởng ứng phong trào Bình dân học vụ[2].
Cần lưu ý rằng đây là các sự kiện lịch sử gắn với bối cảnh cụ thể của thế kỷ 20, và việc xẩm được huy động cho mục đích tuyên truyền là một chương trong lịch sử tồn tại của loại hình này, không phải bản chất cố hữu của nó.
Vì sao hát xẩm có nguy cơ thất truyền?
Sau chiến tranh, các làn điệu xẩm được các nhạc sĩ, cán bộ văn hóa sử dụng như công cụ tuyên truyền chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước[1][2]. Nhưng từ thập niên 60, do điều kiện môi trường và xã hội thay đổi cùng những quan niệm sai lầm, các phường xẩm dần tan rã[2].
Tiến sĩ Lê Thị Minh Lý, nguyên Phó Cục trưởng Cục Di sản (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), gọi hát xẩm là một nghệ thuật độc đáo, một di sản phải được bảo vệ khẩn cấp; bà cho biết đã đề nghị tỉnh Ninh Bình lập hồ sơ khoa học để đưa xẩm vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia[1].
Nghệ sĩ Trần Quốc Chiêm, khi ấy là Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội, cho rằng hát xẩm gần với quần chúng, có sức tuyên truyền rộng trong cộng đồng và giàu tính giáo dục, nên cũng cần được giữ gìn và phát huy[1].
Hát xẩm đang được bảo tồn ở đâu?
Năm 2021, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi nghệ thuật hát xẩm ở Ninh Bình vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia[3]. Từ đó loại hình này có một mốc công nhận chính thức của Nhà nước.
Xã Yên Từ, tỉnh Ninh Bình, có Câu lạc bộ hát xẩm Hà Thị Cầu lập năm 2018, hiện 32 thành viên, nhỏ nhất 6 tuổi, lớn nhất 87 tuổi[3]. Ở đây nghệ nhân lớn tuổi dạy trực tiếp cho lớp trẻ, từ lấy hơi, nhả chữ, gõ phách tới cách hiểu nội dung từng câu hát[3]. Đội hát xẩm Kim Ngân lập năm 2014, đang giữ các lớp học với khoảng 40 học viên, phần đông là thanh thiếu nhi[3]. Cả xã có 9 câu lạc bộ, đội văn nghệ hát xẩm, hát chèo với hàng trăm thành viên đủ lứa tuổi[3].
Ủy ban Nhân dân xã Yên Từ đã phối hợp với các trường tiểu học trên địa bàn tổ chức nhiều lớp học ngoại khóa với hàng trăm tiết truyền dạy, giúp học sinh tiếp cận kiến thức cơ bản về xẩm từ làn điệu, nhịp phách đến nội dung, ý nghĩa từng bài hát[3]. Các tỉnh phía Bắc cũng thành lập nhiều câu lạc bộ, nhóm xẩm như chiếu Xẩm Hà Thành, chiếu Xẩm Hải Phòng, cùng các câu lạc bộ hát xẩm ở Quảng Ninh và ở các tỉnh Nam Định, Vĩnh Phúc, Thái Bình cũ (từ 7/2025 lần lượt thuộc Ninh Bình, Phú Thọ, Hưng Yên)[2].