Tri thức / Việt Nam

Nghệ thuật truyền thống

Tuồng (hát bội) là gì? Nghệ thuật vẽ mặt, hát bội Bình Định và di sản Đào Tấn

Văn hoá và tín ngưỡng Ghi chép phong tục.

Tuồng (hát bội) là gì? Nghệ thuật vẽ mặt, hát bội Bình Định và di sản Đào Tấn

TL;DR: Tuồng, còn gọi là hát bội, là loại hình sân khấu truyền thống của người Việt, dùng hát, nói, múa và vẽ mặt ước lệ để diễn tích. Hát bội Bình Định được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia từ năm 2014, gắn với danh nhân Đào Duy Từ và Đào Tấn, người để lại gần 40 vở tuồng. Màu và nét vẽ mặt (đỏ, trắng mốc, đen, chàm, rằn) là quy ước giúp khán giả đoán tính cách nhân vật ngay khi vai bước ra.

Tuồng (hát bội) là gì?

Tuồng, còn gọi là hát bội, là loại hình sân khấu ca kịch truyền thống của người Việt, trong đó diễn viên vừa hát vừa nói, vừa múa và dùng động tác ước lệ để kể lại một tích truyện. Người diễn không cố tái hiện đời thường mà dùng hệ thống quy ước riêng: nét mặt vẽ kỹ, áo mũ phân vai, bước chân và tay áo mang ý nghĩa. Hát bội từng phổ biến ở nhiều vùng, nhưng Bình Định được xem là đất tổ của loại hình này ở miền Trung, nơi còn lưu giữ nhiều đoàn hát, nhiều vở và nhiều nghệ nhân.

Theo đề án bảo tồn mà báo Thanh Niên thuật lại, hát bội (tuồng) Bình Định được ghi vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2014[1][2]. Đề án cho rằng loại hình này có từ thời Trần và phát triển mạnh ở đất Bình Định xưa, nay là phần phía đông tỉnh Gia Lai[1]. Vùng này gắn với hai danh nhân: Đào Duy Từ, người được coi là đặt nền móng cho hát bội, và Đào Tấn, tác giả gần 40 vở tuồng còn được nhiều đoàn dựng lại và biểu diễn[1].

Cần phân biệt hai chữ hay bị dùng lẫn. Trong sách Việt Nam phong tục, Phan Kế Bính viết: hát bội và hát tuồng chỉ khác nhau ở mức độ nghiêm chỉnh, khi hát tuồng thì người nhiều, đồ tốt, ít tán nhảm, thường diễn các tích đánh nhau như Tam Quốc, Bình Đông, Bình Tây[5]. Nói cách khác, "bội" và "tuồng" trong cách dùng dân gian thường chỉ cùng một dòng, chỉ khác sắc thái và quy mô dàn dựng.

Nguồn gốc của tuồng được ghi chép thế nào?

Tư liệu xưa không thống nhất về thời điểm tuồng ra đời. Sách Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ ghi lại rằng trò tuồng nước ta khởi đầu từ đời nhà Lý, khi một đạo sĩ người Tống từ Trung Hoa sang truyền cho dân trong nước cách múa hát làm trò[6]. Trong cùng cuốn sách, tác giả còn cho biết đời sau noi theo lối hát vãn: cứ đến rằm tháng bảy, các nhà có tang mời phường hát tới hát giúp lễ tế ngu, giọng hát nghe bi thương, dân gian quen gọi là phường chèo bội; mãi tới khoảng năm Cảnh Hưng, phường chèo bội này mới xen thêm lối tuồng, người diễn đóng vai, vẽ mặt rồi múa hát đùa cợt[6]. Sách chép tiếp rằng quan trên nghiêm cấm lối ấy hơn mười năm, tới năm Canh Tuất (1790) lại thấy dân gian bày trò hát bội ấy[6].

Đây là tư liệu của một người đương thời ghi chép điều mình nghe và thấy, không phải công trình khảo cứu hiện đại, nên nên đọc như một nguồn văn bản chứ không phải bản án lịch sử. Bên cạnh đó, một số tài liệu nói tuồng có từ thời Trần[1], trong khi Vũ trung tùy bút lại đẩy mốc xa hơn về thời Lý. Giới nghiên cứu sân khấu vẫn còn tranh luận về mốc khởi thủy và mức độ ảnh hưởng từ sân khấu Trung Hoa, nên người đọc nên tiếp nhận các mốc này như những giả thuyết có nguồn, không phải chân lý đã chốt.

Nghệ thuật vẽ mặt trong tuồng có ý nghĩa gì?

Vẽ mặt là một trong những dấu hiệu dễ nhận ra nhất của tuồng, và cũng là cách để khán giả biết ngay nhân vật thuộc loại nào trước khi nghe một câu hát. Mặt vẽ không nhằm làm đẹp mà nhằm mã hóa tính cách: trung, gian, nóng nảy, trầm tĩnh, hài hước. Cùng với áo mũ và dáng đi, nét mặt tạo thành bộ mật mã thị giác cho cả vở diễn.

Các lối vẽ mặt thường gặp

  • Mặt đỏ: người trung, trí dũng, chững chạc, như Quan Công[7].
  • Mặt trắng mốc: kẻ xu nịnh; riêng mặt trắng pha hồng lại có ở phe trung, như Địch Thanh, Tiết Nhơn Quý[7].
  • Mặt đen: người chất phác, ngay thẳng, dễ giận, như Bao Công[7].
  • Mặt màu chàm: dân ở rừng hay tướng núi[7].
  • Mặt rằn: có vai trung như Trương Phi, cũng có vai nịnh như Tạ Ôn Đình[7].

Bảng dưới đây ghi một số kiểu mặt của tuồng Bình Định theo lời nhà nghiên cứu Nguyễn An Pha trên Báo Gia Lai[7]:

Kiểu mặtTính cáchNhân vật được nêu làm ví dụ
Mặt đenThẳng ngay, trung thựcBao Công
Mặt đỏTrí dũng, chững chạcQuan Công
Mặt tròng xéo xanhTrung trực, vũ dũng, nóng tínhKhương Linh Tá
Mặt tròng xéo đỏCó thể là vai trung hoặc vai nịnhHoàng Phi Hổ (trung), Võ Tam Tư (nịnh)
Mặt lưỡi càyĐoản hậu, nhát ganMao Ất

Hát bội Bình Định gắn với Đào Tấn ra sao?

Đào Tấn là danh nhân văn hóa có vai trò đặc biệt với hát bội Bình Định. Theo ghi nhận của báo chí, ông là tác giả gần 40 vở tuồng kinh điển được nhiều đơn vị nghệ thuật phục dựng và biểu diễn[1]. Năm 2015, tỉnh Bình Định (nay thuộc tỉnh Gia Lai) tổ chức lễ kỷ niệm 170 năm năm sinh danh nhân văn hóa Đào Tấn và đón nhận bằng chứng nhận "Hát bội Bình Định là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia"[2].

Vai trò của Đào Tấn không chỉ ở số lượng vở. Theo báo Tuổi Trẻ, kỹ năng diễn xuất hát bội được ông truyền lại qua trường dạy hát bội gọi là học bộ đình Vinh Thạnh, và các đoàn tuồng Bình Định đến nay vẫn diễn vở của ông theo phong cách ấy; bài báo cũng dẫn đánh giá của nhiều học giả tại các hội thảo khoa học về công canh tân, chấn hưng hát bội của ông[3]. Năm 2015 là dịp kỷ niệm 170 năm ngày sinh Đào Tấn (1845)[3].

Bên cạnh Đào Tấn, đất Bình Định còn gắn với Đào Duy Từ, người được xem là đặt nền móng cho nghệ thuật hát bội[1]. Người Bình Định quen gọi Đào Duy Từ là Tiền tổ, Đào Tấn là Hậu tổ của nghề[1][2].

Hát bội được tổ chức trong đời sống cộng đồng như thế nào?

Hát bội không chỉ diễn trên sân khấu chuyên nghiệp. Trong đời sống cư dân ven biển Bình Định, hát bội xuất hiện trong các kỳ cúng lễ tại lăng Ông và lăng Cô Bác. Bài nghiên cứu của Nguyễn Thị Vân in trên Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh năm 2021 cho biết các lăng Ông trong tỉnh đều có tổ chức hát bả trạo lẫn hát bội; hai hình thức này một mặt dùng để cúng tế thần linh, mặt khác đáp ứng nhu cầu giải trí của cư dân bản địa[4]. Bài viết cũng nhận định rằng tín ngưỡng chính là nơi gìn giữ và chuyển giao những giá trị văn hóa nghệ thuật; với cư dân ven biển Bình Định, các hoạt động tín ngưỡng không đơn thuần bày tỏ niềm tin vào thần linh mà còn đóng vai trò chỗ dựa tinh thần tập thể, tiếp sức cho họ vượt qua gian khó lúc đương đầu với biển cả mưu sinh[4].

Vì sao hát bội Bình Định đang được hướng tới UNESCO?

Theo báo Thanh Niên (tháng 7/2026), UBND tỉnh Gia Lai có đề án bảo tồn hát bội và bài chòi cho giai đoạn 2026 - 2030. Đề án nhắm tới việc lập hồ sơ đề nghị UNESCO ghi danh hát bội Bình Định, kèm theo số hóa tư liệu, đào tạo lớp kế cận và làm du lịch văn hóa[1]. Tỉnh hiện có Đoàn tuồng Đào Tấn (thuộc Nhà hát Nghệ thuật truyền thống tỉnh Gia Lai), 8 đoàn hát bội ngoài công lập và khoảng 200 nghệ nhân đang giữ nghề[1].

Tuy vậy, báo cũng nêu những khó khăn: không gian diễn xướng thu hẹp, lực lượng kế cận thiếu hụt, việc thu hút giới trẻ và phát triển du lịch từ hát bội chưa đạt kỳ vọng[1]. Đây là bức tranh hai mặt thường thấy ở các di sản sân khấu truyền thống: được ghi danh, được quan tâm, nhưng vẫn phải vật lộn với khán giả và người kế nghiệp.

Những điểm cần lưu ý khi tìm hiểu về tuồng

Một là, các mốc lịch sử còn nhiều ý kiến khác nhau. Sách Vũ trung tùy bút chép tuồng bắt đầu từ đời Lý[6], trong khi một số tài liệu nói có từ thời Trần[1]. Người đọc nên xem đây là những ghi chép có nguồn, không phải mốc tuyệt đối.

Hai là, phân biệt hát bội với các loại hình gần gũi. Hát chèo, hát ả đầu, hát bả trạo là những hình thức khác, dù có khi cùng xuất hiện trong một kỳ lễ. Sách Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính liệt kê hát bội và hát tuồng như hai mục riêng trong các trò vui hội làng, với hát tuồng nghiêm chỉnh hơn[5].

Ba là, vẽ mặt tuồng là quy ước sân khấu chứ không phải bảng tra tính cách: cùng một màu có thể thuộc phe trung hoặc phe nịnh, như mặt trắng và mặt rằn, nên phải đọc cùng với vai diễn[7].

Bốn là, khi tìm thông tin trên mạng, nên ưu tiên nguồn báo chí chính thống, bài nghiên cứu có bình duyệt và văn bản gốc, thay vì các trang tổng hợp không rõ nguồn.

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Tuồng và hát bội có phải là một không?

Trong cách dùng phổ biến, tuồng và hát bội thường chỉ cùng một dòng sân khấu truyền thống. Sách Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính phân biệt: hát bội và hát tuồng khác nhau ở mức độ nghiêm chỉnh, hát tuồng thì người nhiều, đồ tốt, ít tán nhảm, thường diễn tích đánh nhau.

Hát bội Bình Định được công nhận di sản từ khi nào?

Theo báo chí, hát bội (tuồng) Bình Định được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia từ năm 2014. Năm 2015, tỉnh Bình Định tổ chức lễ đón nhận bằng chứng nhận và kỷ niệm 170 năm năm sinh danh nhân văn hóa Đào Tấn.

Nghệ thuật vẽ mặt trong tuồng để làm gì?

Vẽ mặt là cách mã hóa tính cách nhân vật. Màu da mặt và nét vẽ cho khán giả đoán ngay vai đó là người trung, kẻ nịnh hay người ngay thẳng nóng nảy, trước khi nghe một câu hát. Đây là quy ước sân khấu, không phải tướng số.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcdefghijkBáo Thanh Niên: Hát bội Bình Định trên hành trình đến UNESCO, Đoạn về đề án bảo tồn hát bội, bài chòi giai đoạn 2026 - 2030UBND tỉnh Gia Lai triển khai đề án bảo tồn hát bội, bài chòi giai đoạn 2026 - 2030, hướng đến xây dựng hồ sơ đề nghị UNESCO ghi danh hát bội Bình Định
  2. ↑ abcTuổi Trẻ Online: Hát bội Bình Định là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, Đoạn về lễ kỷ niệm 170 năm năm sinh Đào Tấn và đón bằng chứng nhậnSáng 12-9, UBND tỉnh Bình Định tổ chức Lễ kỷ niệm 170 năm năm sinh danh nhân văn hóa Đào Tấn, đón nhận bằng chứng nhận “Hát bội Bình Định là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia”
  3. ↑ abTuổi Trẻ Online: Từ di sản Đào Tấn, Đoạn về nhà nghiên cứu kịch nghệ tuồng Vũ Ngọc Liễn và các đoàn hát bội Bình ĐịnhNhà nghiên cứu kịch nghệ tuồng Vũ Ngọc Liễn đánh chầu trong đêm diễn của Nhà hát tuồng Đào Tấn tại Munich (Đức) trong sự thích thú của khán giả
  4. ↑ abThị Vân Nguyễn (2021). Tín ngưỡng trong đời sống của cư dân ven biển Bình Định. Tạp chí Khoa học, Trang 7, đoạn về hát bả trạo và hát bội tại các lăng ÔngNgoài ra, tại các lăng Ông trên địa bàn tỉnh đều tổ chức hát bả trạo, hát bội vừa để hát cúng lễ cho thần linh vừa phục vụ nhu cầu giải trí cho cư dân địa phương.
  5. ↑ abPhan Kế Bính (1915). Việt Nam phong tục. Đăng trên Đông Dương tạp chí 1913-1914, in thành sách 1915; bản số hoá: Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, in lại 1973, Trang 23, mục Bách hí, đoạn về hát bội và hát tuồngHát tuồng, hát bội chỉ khác nhau là hát tuồng thì hát một cách nghiêm chỉnh, người nhiều đồ tốt, ít tán nhảm, thường dùng những điền tích đánh nhau như điền : Tam quốc, Bình Đòng, Bình Tây, v.v...
  6. ↑ abcdPhạm Đình Hổ và Nguyễn Hữu Tiến (dịch) (không rõ năm). Vũ trung tùy bút (bản dịch Nguyễn Hữu Tiến), Trang 24, đoạn về nguồn gốc trò tuồng và phường chèo bộiNước Nam ta từ đời nhà Lý, có người đạo sĩ nhà Tống bên Trung Hoa sang dạy dân trong nước múa hát làm trò. Trò tuồng ở nước ta bắt đầu từ đấy.
  7. ↑ abcdefgBáo Gia Lai: Đặc sắc hóa trang mặt trong nghệ thuật tuồng
#Tuồng#HátBội#HátBộiBìnhĐịnh#ĐàoTấn#NghệThuậtVẽMặt#SânKhấuTruyềnThống#DiSảnVănHóaPhiVậtThể