Chiến lược và Nội quyền trong Human Design: cách hệ này bảo bạn ra quyết định, và nên hiểu tới đâu
Chiến lược và Nội quyền là hai trụ cột ra quyết định của Human Design. Bài phân tích cách chúng vận hành theo từng type, và những giới hạn cần biết.
Tra cứu
Hồ sơ giúp anh chị
Gói của Nhật Nguyệt
Hầu hết tiện ích không cần tài khoản. Hồ sơ để lưu và đọc tiếp.
Chọn ngôn ngữ
Trang này chưa có đủ ba bản ngôn ngữ.
Chiến lược và Nội quyền là hai trụ cột ra quyết định của Human Design. Bài phân tích cách chúng vận hành theo từng type, và những giới hạn cần biết.
Phong thủy được nhà nhân học xem là hệ biểu tượng đọc cảnh quan và công cụ tranh quyền trong dòng họ. Sang phương Tây, nó thành sản phẩm trang trí nội thất.
Khám phá ý nghĩa chuyên sâu của Số Linh Hồn 8 trong Thần số học: động lực nội tâm, khát vọng quyền lực, thành công vật chất và bài học cân bằng cuộc sống.
Lá bài 6 of Pentacles (6 Đồng Tiền) trong Tarot nói về sự cho và nhận, lòng hào phóng và bài học cân bằng vật chất, quyền lực giữa người trao và người nhận.
Văn hoá xứ Huế hoà quyện lễ nghi cung đình với tín ngưỡng thờ Mẫu, tạo nhịp sống tâm linh đặc trưng, nơi cung đình và dân gian đan xen chứ không tách rời.
Hội Gióng ở đền Sóc và đền Phù Đổng tôn vinh Thánh Gióng, với nghi lễ đặc sắc và giá trị lịch sử, được UNESCO ghi danh Di sản văn hóa phi vật thể.
Dân tộc Rơ Măm thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me, cư trú tập trung ở Kon Tum. Tìm hiểu tiếng nói, tập tục thờ cúng và các lễ hội chính của người Rơ Măm.
Dân tộc Giáy cư trú ở Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu, nói tiếng thuộc ngữ hệ Thái - Ka Đai. Tín ngưỡng gắn với bàn thờ gian giữa và các lễ tết.
Dân tộc Ngái là một trong 54 dân tộc Việt Nam, dân số rất ít, cư trú phân tán ở Quảng Ninh, Hải Phòng, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng.
Dân tộc Brâu cư trú tập trung ở làng Đắc Mế, xã Bờ Y, Kon Tum. Tiếng nói thuộc nhóm Môn-Khơ Me, đời sống gắn với thờ cúng thần linh và lễ ăn mừng cơm mới.
Dân tộc Tày có 1.845.492 người theo điều tra 2019, cư trú ở thung lũng Đông Bắc, nói tiếng Tày - Thái, thờ tổ tiên và giữ các lễ hội lồng tồng đặc trưng.
Dân tộc Mường thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường, cư trú chủ yếu ở Hòa Bình, Thanh Hóa, Phú Thọ, có kho tàng mo, lễ hội và tập tục thờ cúng riêng.
Dân tộc Xtiêng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me, cư trú chủ yếu ở Bình Phước. Bài viết phân tích nơi ở, tiếng nói, tập tục thờ cúng và các lễ hội chính.
Dân tộc Gia Rai thuộc ngữ hệ Nam Đảo, cư trú chủ yếu ở Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, theo chế độ mẫu hệ, thờ đa thần Yang và có lễ bỏ mả nổi tiếng.
Dân tộc Chơ Ro cư trú chủ yếu ở vùng núi thấp Đồng Nai, nói tiếng nhóm Môn-Khơ Me, có lễ cúng thần lúa và lễ cúng thần rừng tổ chức ba năm một lần.
Dân tộc La Ha thuộc nhóm ngôn ngữ Ka Đai, cư trú ở Yên Bái và Sơn La. Bài viết tổng hợp tên gọi, dân số, nhà ở, hôn nhân và tập tục thờ cúng của người La Ha.
Dân tộc Khmer (Khơ Me) có 1.319.652 người theo điều tra 2019, cư trú chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long, nói tiếng nhóm Môn - Khơ Me, thờ Phật và tổ tiên.
Dân tộc Hoa (Hán) trong 54 dân tộc Việt Nam: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng tổ tiên và lễ hội chính như Tết Nguyên đán, Nguyên tiêu, múa lân.
Người Tràng An thanh lịch là cách nói về nếp ăn, nếp nói, cách ứng xử tinh tế của người Thăng Long xưa, và câu ca dao còn đúng tới đâu hôm nay.
Quẻ Phong Hỏa Gia Nhân số 37 bàn về nếp nhà, vai trò từng người và sức ảnh hưởng từ trong ra ngoài, gồm quái từ, tượng từ và sáu hào từ.
Quẻ Lôi Thủy Giải số 40 trong Kinh Dịch: cấu trúc Chấn trên Khảm dưới, quái từ, Tượng từ, sáu hào từ và bài học về cởi bỏ, tha thứ, dứt điểm việc còn dang dở.
Dân tộc Mạ sống chủ yếu ở Lâm Đồng và Đồng Nai, nói tiếng nhóm Môn - Khơ Me, thờ thần Yang và có lễ đâm trâu lớn sau mùa rẫy.
Sao Diêm Vương trong chiêm tinh học đại diện cho quyền lực tiềm ẩn, sự biến đổi sâu sắc và tái sinh, cho biết nơi bạn chuyển hóa mạnh mẽ nhất.
Dân tộc Chứt thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường, cư trú chủ yếu ở Quảng Bình, có các nhóm Mày, Rục, Sách, Arem, Mã Liềng với tập tục thờ cúng và lễ hội riêng.
Dân tộc Thổ thuộc nhóm ngôn ngữ Việt Mường, cư trú chủ yếu ở miền Tây Nghệ An và Thanh Hoá, có hệ thống thờ cúng thần linh, tổ tiên và bà mụ riêng.
Dân tộc Kháng cư trú lâu đời ở Tây Bắc, chủ yếu tại Lai Châu và Sơn La, nói tiếng nhóm Môn - Khơ Me, thờ cúng tổ tiên và có lễ hội riêng.
Dân tộc Lào ở Việt Nam gọi mình là Thay, nói tiếng nhóm Tày - Thái, sống ở Lai Châu và Sơn La, thờ tổ tiên và đón Tết Bun Pi May tháng 4 âm lịch.
Người Hrê cư trú chủ yếu ở miền tây Quảng Ngãi và An Lão, Bình Định, nói tiếng nhóm Môn - Khơ Me, có hệ thống thờ cúng đa thần và lễ đâm trâu lớn nhất.
Dân tộc Xơ Đăng gồm các nhóm Xơ Teng, Tơ Đrá, Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng, Tà Trĩ, Châu, cư trú ở Kon Tum, Quảng Nam, Quảng Ngãi, thờ thần nước, thần lúa.
Dân tộc Hà Nhì thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng Miến, cư trú ở Lai Châu và Lào Cai, có tập tục thờ cúng tổ tiên theo gia đình và các lễ tết riêng.
Dân tộc Ơ Đu thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me, cư trú chủ yếu ở Tương Dương, Nghệ An, nổi bật với lễ đón tiếng sấm và tục thờ ma nhà.
Dân tộc Cờ Lao cư trú ở Hà Giang, nói tiếng nhóm Ka Đai, thờ thần đất và hồn lúa, ăn Tết Nguyên đán cùng các Tết mùng 3 tháng 3, mùng 5 tháng 5.
Dân tộc Si La cư trú ở Mường Tè, Lai Châu, nói tiếng thuộc nhóm Tạng Miến, thờ cúng tổ tiên và có lễ cúng bàn, tết năm mới, tết cơm mới.
Dân tộc Khơ Mú thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me, cư trú lâu đời ở Tây Bắc Việt Nam, có hệ thờ cúng năm loại ma và tết cơm mới sau vụ gặt tháng 10 âm lịch.
Dân tộc Xinh Mun thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me, cư trú chủ yếu ở Sơn La và Lai Châu, có tục ở rể, thờ cúng tổ tiên hai đời và lễ cúng bản hằng năm.
Dân tộc Sán Dìu thuộc 54 dân tộc Việt Nam, nói thổ ngữ Hán Quảng Đông, sống ở trung du Bắc Bộ với tập tục thờ cúng và hát soọng cô đặc trưng.
Dân tộc Sán Chay gồm hai nhóm Cao Lan và Sán Chỉ, cư trú ở vùng Đông Bắc Việt Nam. Tìm hiểu tiếng nói, nhà sàn, tập tục thờ cúng và các lễ hội chính.
Tetrabiblos của Ptolemy gồm bốn quyển, trình bày nguyên lý chiêm tinh, ảnh hưởng của các hành tinh và cách Ptolemy coi chiêm tinh là kiến thức phỏng đoán.
Sách tướng cổ đoán nốt ruồi theo chỗ mọc và màu: chỗ kín phần nhiều cát, giữa rốn sinh quý tử, trên gáy chủ uy quyền, giữa thắt lưng lại là điềm xấu.
Cốm làng Vòng, thức quà mùa thu Hà Nội, làm từ lúa nếp non qua rang, giã, sàng lọc công phu, gắn với nghề truyền thống làng Vòng và văn hóa ẩm thực Kinh kỳ.
Kiến Lộc trong Bát Tự là cách cục khi Nhật chủ đắc Lộc tại chi tháng, chủ thân vượng, tự lập, hưởng phúc lộc. Phân biệt với Tỷ Kiên và Kiếp Tài.
Quẻ Sơn Hỏa Bí (quẻ 22) trong Kinh Dịch nói về vẻ đẹp hình thức, sự trang sức và văn hóa bề ngoài, kèm ứng dụng trong cuộc sống, công việc, giao tiếp.