Người Tràng An là gì và vì sao lại gọi là Tràng An?
Tràng An vốn là kinh đô của Trung Quốc thời Hán, về sau trở thành danh từ chung chỉ kinh đô của một nước. Trong ngữ cảnh Việt Nam, người Tràng An là cách gọi cũ chỉ người sống ở kinh đô, cụ thể là người Thăng Long, Hà Nội. Cách gọi này không gắn với một dòng họ hay phường phố cụ thể mà gắn với phong cách sống của người Thủ đô.
Tràng sinh thủy pháp phái Tam Hợp luận nước theo 12 cung: thu nước ở cung sinh vượng, phóng nước ở cung suy bại, kèm bốn cục thủy và Bát đại Hoàng Tuyền.
Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, danh nhân văn hóa thế kỷ 16, cùng tư tưởng, thơ văn và di sản đền thờ tại Vĩnh Bảo, Hải Phòng, di tích quốc gia đặc biệt.
Nàng Han, nữ anh hùng huyền thoại của người Thái trắng, cải trang nam nhi đánh đuổi giặc phương Bắc, được thờ phụng qua lễ hội rằm tháng Giêng âm lịch.
Lễ Kin Pang Then là lễ đầu xuân của người Thái trắng, do các thầy Then đứng lễ để tạ ơn con nuôi. Bài viết kể thời gian, lễ vật, các lễ thức và ý nghĩa.
Trang phục thổ cẩm của người Lô Lô ở Hà Giang nổi bật với kỹ thuật thêu vá thủ công tinh xảo, màu sắc rực rỡ và những bộ phận mang ý nghĩa văn hóa sâu sắc.
Nghi lễ gội đầu Áp Hô Pang của người Thái trắng ở Quỳnh Nhai, Sơn La diễn ra chiều 30 Tết, gắn với truyền thuyết Nàng Han, mang ý nghĩa tẩy uế đón năm mới.
Lễ hội Nàng Hai của người Tày Cao Bằng là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, thể hiện tín ngưỡng phồn thực qua hình tượng Mẹ Trăng, cầu mùa màng bội thu.
Trang phục cưới của cô dâu Ê Đê dệt từ thổ cẩm chàm sẫm, hoa văn đỏ vàng, là của hồi môn thể hiện sự khéo léo và gắn kết cộng đồng trong chế độ mẫu hệ.
Lễ hội Nữ tướng Lê Chân tại Hải Phòng diễn ra ngày mùng 8 tháng 2 âm lịch, tưởng nhớ người khai khẩn An Biên trang, di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Sách lá cổ của người Mày (dân tộc Chứt) ghi thần chú, bài cúng và tri thức dân gian, chỉ dùng trong nghi lễ quan trọng, đang đứng trước nguy cơ thất truyền.
Khám phá ý nghĩa chiêm tinh của kỳ Trăng Non: thời điểm khởi đầu, gieo ý định và chu kỳ 29,5 ngày. Tìm hiểu cách ứng dụng năng lượng này trong đời sống.
Khám phá nghề làm hương Phia Thắp hơn 100 năm tuổi của người Nùng An tại Cao Bằng, từ nguyên liệu tự nhiên, quy trình thủ công đến giá trị văn hóa và kinh tế.
Khám phá nghi lễ Cha Chaih (ăn than) của người Giẻ Triêng: hành trình 7 chàng trai vào rừng lấy than, lời thề với thần linh và nghi thức rèn nông cụ đầu năm.
Khăn đóng và áo the là trang phục trang trọng của nam giới Việt Nam xưa, thể hiện sự nho nhã, lễ độ và nay được phục dựng trong lễ, Tết, đám cưới, đám giỗ.
Trăng Bán Nguyệt Cuối Tháng trong chiêm tinh: thời điểm năng lượng suy giảm, thúc đẩy nhìn lại, buông bỏ và điều chỉnh trước chu kỳ mới, kèm lưu ý thực hành.
Mặt Trăng là hành tinh chủ quản của Cự Giải, chi phối cảm xúc, trực giác và nhu cầu an toàn. Tìm hiểu vì sao người Cự Giải nhạy cảm và gắn bó với gia đình.
Tết Sài Gòn gắn với chợ hoa Nguyễn Huệ, chợ hoa Bến Bình Đông và Đường hoa Nguyễn Huệ. Bài phân tích nguồn gốc, nếp ăn Tết và sắc thái riêng của Sài Gòn.
Sơn hướng Đinh trong 24 sơn hướng phong thủy nằm ở 157,5 đến 172,5 độ, hành Mộc, tính Âm, thường luận có lợi cho học hành, thi cử và phát triển trí tuệ.
158 câu hỏi đáp về 44 loại lễ cúng của người Việt Nam, ba thứ tiếng: câu người đọc thật hay hỏi (ngày giờ, mâm cúng, cách làm, khác biệt giữa các vùng) và lời đáp theo nguồn, kèm địa chỉ trang nguồn. Chỉ gồm câu đã soát.
132 điều kiêng và lưu ý khi làm lễ cúng của người Việt Nam, thuộc 38 loại lễ, mỗi dòng một câu ba thứ tiếng kèm lễ, vùng, truyền thống, loại và địa chỉ trang nguồn. Chỉ lấy từ các dòng nghi thức đã soát; là mô tả tục theo nguồn, không phải điều bắt buộc.
407 dòng nghi thức cúng: mỗi dòng là cách làm một lễ ở một vùng theo một truyền thống, gồm thời điểm, nơi cúng, người cúng, lễ vật kèm mã danh mục, trình tự, điều kiêng và lưu ý, kèm địa chỉ các trang nguồn hay tên sách nguồn. Chỗ các nguồn nói khác nhau ghi ở cột ghi_chu.
155 loại lễ cúng của người Việt Nam chia 15 nhóm, từ gia tiên, giỗ chạp, Tết, tiết lễ trong năm tới tang ma, đình đền phủ và lễ của các dân tộc; mỗi lễ kèm tên khác, thời điểm, đối tượng cúng, mô tả ngắn, các trục phân loại (chu kỳ, không gian, đối tượng thờ, truyền thống, dân tộc, vùng văn hoá), ngày lễ có cấu trúc và đoạn phong tục có nguồn. Là bảng khoá của các bộ văn cúng và phong tục lễ cúng của Nhật Nguyệt.
456 bài văn khấn, văn tế, sớ và sám kệ đang được dùng, in và đăng ở Việt Nam, mỗi dòng một lời văn kèm loại lễ, phần lễ, vùng miền, truyền thống, họ lời văn, dị bản và các ô điền. Lời văn giữ nguyên tiếng Việt như nguồn; 348 bài ghi tên và địa chỉ trang nguồn, 108 bài là văn sưu tầm không nêu nguồn.