Tháng 11/2026 có lễ gì, đi chơi đâu? Lịch lễ hội và ngày âm cả tháng
Tháng 11/2026 (23/9 đến 22/10 âm lịch) có Festival Trà Thái Nguyên, Cồng chiêng Gia Lai, Ok Om Bok, Kathina và nhiều lễ khác.
Hầu hết tiện ích không cần tài khoản. Hồ sơ để lưu và đọc tiếp.
Chọn ngôn ngữ
Trang này chưa có đủ ba bản ngôn ngữ.
Xem năm 2026 của anh chị trong một trang: sao chiếu mệnh, Tam Tai, công việc, tiền bạc, tình cảm.
Tháng 11/2026 (23/9 đến 22/10 âm lịch) có Festival Trà Thái Nguyên, Cồng chiêng Gia Lai, Ok Om Bok, Kathina và nhiều lễ khác.
Lịch lễ hội tháng 10/2026: Côn Sơn Kiếp Bạc, Lam Kinh, Katê, Sene Dolta, Festival Thu Hà Nội, chùa Keo, kèm ngày âm, tiết khí và ngày kiêng.
Rằm tháng Giêng, Tết Nguyên Tiêu, là ngày trăng tròn đầu tiên của năm âm lịch, được người Việt xem trọng với ước mong phước lành, bình an.
Lễ hội Phủ Dầy tại Nam Định vào tháng 3 âm lịch tôn vinh Thánh Mẫu Liễu Hạnh, trung tâm tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ với nghi lễ chầu văn và hầu đồng.
Đông chí là tiết khí thứ 22, ngày ngắn nhất năm. Tìm hiểu vì sao cộng đồng người Hoa gọi là Tết Đông chí, ăn chè trôi nước và cúng gia tiên.
Lễ Thất Tịch là chiều tối mùng 7 tháng 7 âm lịch, gắn với sự tích Ngưu Lang Chức Nữ. Tục ăn chè đậu đỏ ngày này là quan niệm dân gian cầu duyên.
Ngày Văn hóa Việt Nam 24/11 do Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 24/4/2026, người lao động được nghỉ làm hưởng nguyên lương và miễn giảm phí tham quan.
Festival Trà Quốc tế Thái Nguyên 2026 dự kiến từ 30/10 đến 7/11 tại Quảng trường Võ Nguyên Giáp, chủ đề 'Thái Nguyên, Đệ nhất danh trà'.
Lễ hội hoa Tam giác mạch lần thứ XII tại Tuyên Quang khai mạc tối 6/11/2026 ở Đồng Văn, mùa hoa tháng 10 đến tháng 12, gắn văn hóa các dân tộc vùng cao.
Năm Bính Ngọ 1966 ở Nhật Bản, số sinh giảm khoảng 15% vì kiêng con gái tuổi Ngọ. Bài phân tích dữ liệu Nhật, Hàn và khoảng trống dữ liệu Việt Nam 2026.
Ngày Di sản văn hóa Việt Nam 23/11 ra đời theo Quyết định 36/2005/QĐ-TTg, gắn với Sắc lệnh 65/SL năm 1945 về bảo tồn cổ tích trong toàn cõi Việt Nam.
Festival Thu Hà Nội 2026 diễn ra 16-18/10 tại công viên Thống Nhất với 9 không gian trải nghiệm về di sản, làng nghề, ẩm thực và giao lưu quốc tế.
Festival Hoa Đà Lạt lần thứ XI năm 2026 với chủ đề "Đà Lạt, bản giao hòa của sắc hoa và âm nhạc" khai mạc tối 19/12 tại Quảng trường Lâm Viên.
Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò 2026 tại Lào Cai diễn ra 1 tới 7/10, khai mạc 20 giờ ngày 2/10, gắn với 5 năm Xòe Thái được UNESCO ghi danh.
Cộng đồng Chăm gồm ba dòng tôn giáo khác nhau: Chăm Bàlamôn, Chăm Bàni và Chăm Islam, mỗi dòng có lễ hội và thực hành riêng, từ Katê đến Ramưwan.
Hội xuân sau Tết: ném còn, đẩy gậy, đánh đu của đồng bào Lai Châu và trò pháo đất ở Hải Dương, kèm luật chơi, thời gian và ý nghĩa theo báo chí.
Phật giáo Nam Tông là trung tâm đời sống tâm linh người Khmer Nam Bộ, với ngôi chùa làng và các lễ hội lớn như Chol Chnam Thmay và Ok Om Bok.
Tiết Lập Xuân là tiết khí đầu năm, rơi vào ngày 3 hoặc 4 tháng 2 dương lịch (năm 2026: 4/2). Cách tính, mốc đổi năm can chi và tục lệ đón Lập Xuân.
Tổng quan các loại lễ hội truyền thống Việt Nam: lễ hội nông nghiệp, lễ hội tín ngưỡng, lễ hội tưởng niệm và lễ hội dân tộc.
So sánh Lồng Tồng của người Tày, hội xuống đồng vùng cao và lễ tịch điền của người Kinh: lễ vật, thời điểm, nghi thức và cách gọi tên khác nhau thế nào.
Văn hoá Tây Bắc gồm cộng đồng cư trú đa dân tộc, tín ngưỡng, lễ hội theo mùa và nghề thủ công truyền thống, mỗi nhóm ngành mang bản sắc riêng.
Dân tộc Kinh (Việt) chiếm hơn 86% dân số, nói tiếng Việt thuộc nhóm Việt Mường. Tìm hiểu nơi cư trú, làng xã, tục thờ cúng tổ tiên và các lễ tết chính.
Dân tộc Khmer (Khơ Me) có 1.319.652 người theo điều tra 2019, cư trú chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long, nói tiếng nhóm Môn - Khơ Me, thờ Phật và tổ tiên.
Dân tộc Si La cư trú ở Mường Tè, Lai Châu, nói tiếng thuộc nhóm Tạng Miến, thờ cúng tổ tiên và có lễ cúng bàn, tết năm mới, tết cơm mới.
Dân tộc La Ha thuộc nhóm ngôn ngữ Ka Đai, cư trú ở Yên Bái và Sơn La. Bài viết tổng hợp tên gọi, dân số, nhà ở, hôn nhân và tập tục thờ cúng của người La Ha.
Dân tộc Xtiêng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me, cư trú chủ yếu ở Bình Phước. Bài viết phân tích nơi ở, tiếng nói, tập tục thờ cúng và các lễ hội chính.
Dân tộc Thái ở Việt Nam gồm ngành Đen và ngành Trắng, nói nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, sống trong bản mường, thờ tổ tiên và giữ nhiều lễ hội truyền thống.
Dân tộc Pà Thẻn thuộc ngữ hệ Hmông-Dao, cư trú tại Hà Giang và Tuyên Quang, nổi bật với thờ cúng tổ tiên, lễ cơm mới và nghề dệt thổ cẩm truyền thống.
Ẩm thực truyền thống giữ vai trò trung tâm trong lễ hội người Chơ Ro, từ canh bồi, cơm lam đến xôi ngũ sắc, gắn với núi rừng và bảo tồn bản sắc.
Dân tộc Rơ Măm thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me, cư trú tập trung ở Kon Tum. Tìm hiểu tiếng nói, tập tục thờ cúng và các lễ hội chính của người Rơ Măm.
Dân tộc Gia Rai thuộc ngữ hệ Nam Đảo, cư trú chủ yếu ở Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, theo chế độ mẫu hệ, thờ đa thần Yang và có lễ bỏ mả nổi tiếng.
Dân tộc Tà Ôi sống ở tây Quảng Trị và tây Thừa Thiên Huế, nói nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me, thờ cúng đa thần và có lễ hội gắn với chu kỳ canh tác rẫy.
Dân tộc La Chí cư trú chủ yếu ở Hà Giang, nói tiếng nhóm Ka Đai, có hệ thống bàn thờ riêng theo từng người đàn ông và các trò chơi dân gian ngày Tết.
Dân tộc Lào ở Việt Nam gọi mình là Thay, nói tiếng nhóm Tày - Thái, sống ở Lai Châu và Sơn La, thờ tổ tiên và đón Tết Bun Pi May tháng 4 âm lịch.
Tiết Tiểu Tuyết là tiết thứ 20 trong 24 tiết khí, thường bắt đầu ngày 22 tháng 11 dương lịch theo giờ Việt Nam, là trung khí của tháng Hợi (tháng 10 âm lịch).
Dân tộc Bố Y gồm hai nhóm địa phương Bố Y và Tu Dí, cư trú ở Hà Giang và Lào Cai, nói hai ngữ hệ khác nhau và giữ nhiều tập tục thờ cúng, lễ tết riêng.
Khám phá tín ngưỡng vạn vật hữu linh, vai trò tiếng khèn trong tang lễ và lễ hội Gầu Tào cầu con, cầu phúc của người H'Mông (Mông) vùng cao Việt Nam.
Dân tộc Co sống lâu đời ở tây bắc Quảng Ngãi, tây nam Quảng Nam, nói tiếng nhóm Môn-Khơ Me, có hệ thống thờ cúng phong phú và lễ đâm trâu lớn nhất năm.
Tổng quan các ngày lễ Tết Việt Nam trong năm: Tết Nguyên Đán, Rằm tháng Giêng, Thanh Minh, Đoan Ngọ, Trung Thu, Tết của các dân tộc và các dịp cúng lễ khác.
Dân tộc Mnông thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me, cư trú lâu đời ở trung Tây Nguyên, nổi bật với văn hóa mẫu hệ, lễ đâm trâu và kho sử thi truyền miệng.
Dân tộc Mông (Mèo, H'Mông) có 1. 393. 547 người theo điều tra 2019, gồm các nhóm Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Đỏ, Mông Đen, Mông Xanh.
Người Hrê cư trú chủ yếu ở miền tây Quảng Ngãi và An Lão, Bình Định, nói tiếng nhóm Môn - Khơ Me, có hệ thống thờ cúng đa thần và lễ đâm trâu lớn nhất.
Khám phá ý nghĩa văn hóa, nghi lễ và sự độc đáo của các lễ hội đua thuyền, đua ghe truyền thống trên khắp Việt Nam, từ sông Kiến Giang đến các vùng miền khác.
Hầu hết tiện ích không cần tài khoản. Hồ sơ để lưu và đọc tiếp.
Chọn ngôn ngữ
Trang này chưa có đủ ba bản ngôn ngữ.