Văn hoá Tây Nguyên: không gian cồng chiêng, nhà rông và chế độ mẫu hệ
Văn hoá Tây Nguyên gắn với không gian cồng chiêng, nhà rông và chế độ mẫu hệ. Bài phân tích nguồn gốc, cơ chế vận hành và biến đổi của các yếu tố này.
Tra cứu
Hồ sơ giúp anh chị
Gói của Nhật Nguyệt
Hầu hết tiện ích không cần tài khoản. Hồ sơ để lưu và đọc tiếp.
Chọn ngôn ngữ
Trang này chưa có đủ ba bản ngôn ngữ.
Văn hoá Tây Nguyên gắn với không gian cồng chiêng, nhà rông và chế độ mẫu hệ. Bài phân tích nguồn gốc, cơ chế vận hành và biến đổi của các yếu tố này.
Dân tộc Gia Rai thuộc ngữ hệ Nam Đảo, cư trú chủ yếu ở Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, theo chế độ mẫu hệ, thờ đa thần Yang và có lễ bỏ mả nổi tiếng.
Dân tộc Ra Glai sống ở vùng núi Nam Trung Bộ, nói tiếng nhóm Malayô-Pôlynêxia, theo chế độ mẫu hệ và có hệ lễ nghi nông nghiệp, thờ cúng riêng.
Cồng có núm, chiêng không núm; cả hai làm bằng đồng thau và tạo nên không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO ghi danh năm 2005.
Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận năm 2005, gắn với đời sống tâm linh của người Ê Đê, Ba Na, Gia Rai và nhiều tộc người khác.
Tháng 11/2026 (23/9 đến 22/10 âm lịch) có Festival Trà Thái Nguyên, Cồng chiêng Gia Lai, Ok Om Bok, Kathina và nhiều lễ khác.
Người Ê Đê thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô-Pôlinêxia, cư trú chủ yếu ở Đắk Lắk, nam Gia Lai, tây Phú Yên và Khánh Hòa, theo chế độ mẫu hệ, thờ đa thần.
Lễ hội Sayangva của người Chơ Ro ở Đồng Nai cúng thần lúa, tạ ơn thiên nhiên và gắn kết cộng đồng, được bảo tồn qua các thế hệ.
Dân tộc Xtiêng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me, cư trú chủ yếu ở Bình Phước. Bài viết phân tích nơi ở, tiếng nói, tập tục thờ cúng và các lễ hội chính.
Dân tộc Giẻ Triêng sống quanh quần sơn Ngọc Linh, nói tiếng nhóm Môn Khơ Me, thờ đa thần và giữ nhiều lễ thức nông nghiệp gắn với chu kỳ rẫy.
Đời sống tín ngưỡng vạn vật hữu linh của người Bru-Vân Kiều qua nghiên cứu của Vargyas Gábor, từ vai trò thầy cúng đến nghi lễ cải táng và cúng thần linh.
Tết cơm mới của người Mường ở xã Hương Cần, Phú Thọ diễn ra ngày 10 tháng Mười âm lịch: ông Lang cúng tại đình Khoang, rồi các nhà mới được gặt lúa.
Nhà dài Ê Đê phản ánh chế độ mẫu hệ qua quy tắc nối dài nhà khi con gái lấy chồng và chạm khắc tôn vinh người phụ nữ, lưu giữ bản sắc Tây Nguyên.
Người Ê Đê ở Đắk Lắk theo chế độ mẫu hệ, sống trong nhà dài, thờ các thần Yang và tổ chức lễ bỏ mả tiễn linh hồn người chết về với tổ tiên.
Lễ hội đền Tép thờ Trung Túc Vương Lê Lai ở xã Kiên Thọ, Thanh Hóa có hai kỳ: 21/8 âm lịch và 8/1 âm lịch, theo lệ vua Lê Lợi đặt giỗ trước một ngày.
Khám phá lễ mừng lúa mới của người Xơ Đăng ở Tây Nguyên: nghi thức, vật phẩm cúng, ý nghĩa tâm linh và vai trò gắn kết cộng đồng trong đời sống nương rẫy.
Lễ bỏ mả Pơ Thi của người Gia Rai đánh dấu sự kết thúc mối liên hệ giữa người sống và người chết, gắn với nghệ thuật tượng nhà mồ.
Khám phá lễ hội mừng lúa mới và tục hiến trâu của người M'Nông ở Tây Nguyên, nghi lễ tạ ơn thần linh, cầu mong mùa màng bội thu.
Tổng quan các loại lễ hội truyền thống Việt Nam: lễ hội nông nghiệp, lễ hội tín ngưỡng, lễ hội tưởng niệm và lễ hội dân tộc.
Dân tộc Mường thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường, cư trú chủ yếu ở Hòa Bình, Thanh Hóa, Phú Thọ, có kho tàng mo, lễ hội và tập tục thờ cúng riêng.
Dân tộc Cơ Ho cư trú chủ yếu ở Lâm Đồng, nói tiếng nhóm Môn-Khơ Me, theo chế độ mẫu hệ, thờ thần Yang và ma Chà, có lễ ăn Tết đâm trâu sau mùa thu hoạch.
Khám phá nghi lễ Cha Chaih (ăn than) của người Giẻ Triêng: hành trình 7 chàng trai vào rừng lấy than, lời thề với thần linh và nghi thức rèn nông cụ đầu năm.
Dân tộc Mnông thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me, cư trú lâu đời ở trung Tây Nguyên, nổi bật với văn hóa mẫu hệ, lễ đâm trâu và kho sử thi truyền miệng.
Lễ cưới người Cơ Tu gồm lễ chạm ngõ Ganoo, sính lễ trâu bò, hát lý đối đáp và lễ ăn Zum công nhận hôn nhân, đậm nét truyền thống.
Dân tộc Tà Ôi sống ở tây Quảng Trị và tây Thừa Thiên Huế, nói nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me, thờ cúng đa thần và có lễ hội gắn với chu kỳ canh tác rẫy.
Dân tộc Co sống lâu đời ở tây bắc Quảng Ngãi, tây nam Quảng Nam, nói tiếng nhóm Môn-Khơ Me, có hệ thống thờ cúng phong phú và lễ đâm trâu lớn nhất năm.
Tết Hoa mào gà là lễ hội lớn nhất năm của người Cống ở Điện Biên, ở Pa Thơm thường vào khoảng rằm tháng 10 Âm lịch; hoa mào gà là hoa linh thiêng khi cúng.
Lễ hội đền Công Đồng Bắc Lệ ở xã Tân Thành, Lạng Sơn diễn ra 18 đến 20 tháng 9 âm lịch, gồm lễ tắm ngai, chính tiệc Mẫu và lễ rước thánh vân du.
Lễ hội đền Huyền Trân công chúa tại Huế tưởng nhớ người có công mở cõi phương Nam, với nghi thức trang nghiêm và hoạt động văn hóa dân gian.
Văn hoá Tây Bắc gồm cộng đồng cư trú đa dân tộc, tín ngưỡng, lễ hội theo mùa và nghề thủ công truyền thống, mỗi nhóm ngành mang bản sắc riêng.
Nghi lễ gội đầu Áp Hô Pang của người Thái trắng ở Quỳnh Nhai, Sơn La diễn ra chiều 30 Tết, gắn với truyền thuyết Nàng Han, mang ý nghĩa tẩy uế đón năm mới.
Lễ nhô dơng cầu mưa của người Cơ Ho Cil bên núi Lang Biang: nghi thức hiến sinh, khấn Yàng, xoang quanh cây nêu và nỗ lực gìn giữ bản sắc văn hóa Tây Nguyên.
Khám phá lễ hội Khai hạ của người Mường Hòa Bình: nguồn gốc, ý nghĩa tâm linh, các nghi thức đặc sắc và vai trò của lễ hội trong đời sống văn hóa cộng đồng.
Hoa dã quỳ nở rộ trên núi lửa Chư Đang Ya (Gia Lai) từ giữa tháng 10 đến tháng 11, gắn với tuần lễ hoa dã quỳ và văn hóa người Jrai bản địa.
Lễ cúng trưởng thành của người Ê Đê gắn với nghi thức tháo vòng kông thiêng, đánh dấu chàng trai tuổi 17 chính thức bước vào hàng ngũ người lớn.
Dân tộc Brâu cư trú tập trung ở làng Đắc Mế, xã Bờ Y, Kon Tum. Tiếng nói thuộc nhóm Môn-Khơ Me, đời sống gắn với thờ cúng thần linh và lễ ăn mừng cơm mới.
Nhiều dân tộc thiểu số Việt Nam đón năm mới theo lịch riêng, từ người Mông, Hà Nhì, Khmer, Chăm tới các tộc người Tây Nguyên, không trùng Tết Nguyên Đán.
Lễ mừng cơm mới của người Khơ Mú ở Than Uyên, Lai Châu gồm cúng thổ địa, thỉnh mời tổ tiên, gieo nứa xin âm dương, tranh xôi đỏ và hát mừng cơm mới.
Dân tộc Mạ sống chủ yếu ở Lâm Đồng và Đồng Nai, nói tiếng nhóm Môn - Khơ Me, thờ thần Yang và có lễ đâm trâu lớn sau mùa rẫy.
Huyền thoại Chử Đồng Tử và Tiên Dung, chuyện tình vượt giai cấp, hành trình hóa thánh và vị thế trong Tứ Bất Tử gắn với nhiều lễ hội ở đồng bằng sông Hồng.
Quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp (quẻ 21) trong Kinh Dịch: tượng quẻ, ý nghĩa về pháp chế, xử lý trở ngại và ứng dụng lời khuyên vào công việc, các mối quan hệ.
Quẻ Sơn Hỏa Bí (quẻ 22) trong Kinh Dịch nói về vẻ đẹp hình thức, sự trang sức và văn hóa bề ngoài, kèm ứng dụng trong cuộc sống, công việc, giao tiếp.
Quẻ Thuần Khảm số 29, tên kinh Tập Khảm, Khảm chồng Khảm, hai hào dương đắc trung bị âm vây. Quái từ, Tượng từ, sáu hào từ và bài học đi qua hiểm trùng lặp.
Tìm hiểu về Trụ Giờ trong Bát Tự (Tứ Trụ): vai trò, cách xác định Thiên Can và Địa Chi của giờ sinh, và ý nghĩa của nó trong luận giải số mệnh.