Dụng Thần trong Bát Tự (Tứ Trụ) là gì?
Tìm hiểu khái niệm Dụng Thần trong Bát Tự: cách xác định, vai trò cân bằng Ngũ Hành, và ứng dụng thực tiễn trong luận giải lá số Tứ Trụ.
Hầu hết công cụ không cần tài khoản. Hồ sơ để lưu và đọc tiếp.
Chọn ngôn ngữ
Trang này chưa có đủ ba bản ngôn ngữ.
Anh chị có thể thử:
Tìm hiểu khái niệm Dụng Thần trong Bát Tự: cách xác định, vai trò cân bằng Ngũ Hành, và ứng dụng thực tiễn trong luận giải lá số Tứ Trụ.
Quẻ Trạch Thủy Khốn số 47: đầm cạn nước, nguồn lực kiệt, lời nói không được tin. Phân tích quái từ, Tượng từ, sáu hào từ và bài học giữ chí lúc cùng quẫn.
Văn khấn mùng 1 cúng gia tiên gồm những phần nào, đọc ra sao cho đúng lễ? Bài phân tích cấu trúc lời khấn, thứ tự hành lễ và các dị bản theo vùng miền.
Quẻ Sơn Trạch Tổn số 41 trong Kinh Dịch nói về bớt đi để giữ cái lớn hơn. Bài phân tích quái từ, Tượng từ, sáu hào từ và vị trí quẻ trong Tự Quái.
Thông Quan trong Bát Tự là gì? Tìm hiểu vai trò của thông quan dụng thần trong việc hóa giải xung khắc, lưu thông khí trong lá số và ứng dụng trong luận mệnh.
Nghi lễ cúng Tết miền Nam gồm rước ông bà ngày 30, cúng giao thừa ngoài trời và trong nhà, Tết nhà mùng Ba, tiễn ông bà mùng Bốn, kèm mâm cúng từng lễ.
Cúng cơm ba ngày Tết mùng Một, mùng Hai, mùng Ba gồm lễ Nguyên đán, Chiêu điện, Tịch điện và lễ Tạ. Bài nêu trình tự cúng và khác biệt tục lệ Bắc, Trung, Nam.
Tam Hợp (三合) là nhóm ba Địa Chi hợp thành một cục ngũ hành trong 12 con giáp: Thân-Tý-Thìn, Hợi-Mão-Mùi, Dần-Ngọ-Tuất, Tỵ-Dậu-Sửu.
Tam Đình (三停) trong nhân tướng học chia khuôn mặt thành ba phần để luận đoán vận mệnh, tính cách. Định nghĩa, cách dùng và phân biệt với thuật ngữ dễ nhầm.
Bánh trôi, bánh chay trong Tết Hàn Thực mùng 3 tháng 3 đã được Việt hóa thành dịp hướng về tổ tiên, gắn với truyền thuyết Âu Cơ và bí quyết làm bánh ngon.
Tam Tai là ba năm liên tiếp theo quan niệm dân gian, lặp lại mỗi 12 năm, tính theo nhóm tam hợp của con giáp năm sinh: Thân Tý Thìn gặp năm Dần Mão Thìn.
Nghi lễ cúng Tết miền Bắc từ 23 tháng Chạp tới lễ hóa vàng gồm những bước nào, lễ vật ra sao và vì sao có tục tiễn ông Táo, rước tổ tiên rồi hóa vàng.
Khám phá nguồn gốc Tết Hàn Thực, sự Việt hóa độc đáo qua bánh trôi bánh chay, và ý nghĩa văn hóa, tâm linh sâu sắc của ngày lễ này tại Việt Nam.
Cùng lễ cúng ông Công ông Táo ngày 23 tháng Chạp, mỗi miền lại có nét riêng: lễ vật, thời điểm và nghi thức ở Bắc, Trung, Nam khác nhau thế nào?
Quẻ Trạch Địa Tụy số 45 trong Kinh Dịch bàn về tụ họp: quái từ, Tượng từ, sáu hào từ, vị trí sau quẻ Cấu và bài học giữ cho cuộc tụ họp không tan.
Tổng quan các ngày lễ Tết Việt Nam trong năm: Tết Nguyên Đán, Rằm tháng Giêng, Thanh Minh, Đoan Ngọ, Trung Thu, Tết của các dân tộc và các dịp cúng lễ khác.
Lễ hóa vàng tiễn ông bà sau Tết thường làm từ mùng 3 đến mùng 10 tháng Giêng, phổ biến nhất là mùng 3. Mâm cỗ thay đổi theo vùng miền và điều kiện từng nhà.
Quẻ Sơn Thủy Mông (quẻ số 4) trong Kinh Dịch bàn về sự mông muội, giai đoạn cần khai sáng và nuôi dưỡng, cùng lời khuyên khiêm tốn học hỏi và kiên trì.
Quẻ Thủy Lôi Truân, quẻ thứ 3 trong Kinh Dịch, tượng trưng cho khởi đầu gian nan. Tìm hiểu ý nghĩa tượng quẻ và bài học vượt khó qua thử thách.
Lễ hội Đền Đô tại Bắc Ninh tưởng nhớ 8 vị vua triều Lý, diễn ra ngày 15/3 âm lịch với nghi thức rước kiệu, tuyên Chiếu dời đô và nhiều hoạt động văn hóa.
Tết nhảy (Pút Tồng) của người Dao đỏ ở Lào Cai gắn với truyền thuyết di cư và tín ngưỡng thờ Bàn Vương, gồm 11 bước nghi lễ đặc sắc.
Mâm cúng giỗ miền Trung khác mâm giỗ xứ Huế ở đâu? Phân tích lễ tiên thường, chánh kỵ, giỗ gộp tháng 7 và cách bày biện món Huế trên mâm cúng.
Khám phá quẻ Lôi Địa Dự (quẻ 16) trong Kinh Dịch: cấu trúc quẻ, ý nghĩa các hào, và những bài học sâu sắc về sự chuẩn bị, khiêm tốn và lãnh đạo.
Quẻ Thuần Càn, quẻ đầu tiên trong 64 quẻ Kinh Dịch, tượng trưng cho trời và sự khởi nguyên. Sáu hào dương mở ra bài học về cách hành xử của bậc quân tử.
Quẻ Hỏa Thiên Đại Hữu trong Kinh Dịch: cấu trúc, ý nghĩa triết lý và bài học về sự thịnh vượng, khiêm cường, chia sẻ để giữ phúc khí lâu dài.
Dân tộc Nùng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, cư trú chủ yếu ở các tỉnh Đông Bắc. Tìm hiểu tiếng nói, tập tục thờ cúng và các lễ hội chính của người Nùng.
Dân tộc Cống là một trong 54 dân tộc Việt Nam, cư trú chủ yếu ở Lai Châu, nói tiếng thuộc nhóm Tạng - Miến và giữ nhiều tập tục thờ cúng, lễ hội riêng.
Dân tộc Mảng thuộc 54 dân tộc Việt Nam, cư trú chủ yếu ở Lai Châu, nói tiếng nhóm Môn - Khơ Me. Bài viết điểm lại nguồn gốc, tập tục thờ cúng và lễ hội chính.
Dân tộc Lự thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, cư trú chủ yếu ở Lai Châu, với tập tục thờ cúng và các lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc văn hoá riêng.
Khám phá Lễ hội Trỉa lúa (lấp lỗ) của người Bru-Vân Kiều ở Quảng Bình, nghi lễ nông nghiệp tôn thờ thần lúa, cầu mùa màng bội thu với các nghi thức độc đáo.
Dân tộc Dao trong 54 dân tộc Việt Nam: nơi cư trú, tiếng nói thuộc ngữ hệ Hmông - Dao, các nhóm địa phương, tập tục thờ cúng và lễ cấp sắc.
Dân tộc Mường thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường, cư trú chủ yếu ở Hòa Bình, Thanh Hóa, Phú Thọ, có kho tàng mo, lễ hội và tập tục thờ cúng riêng.
Dân tộc Thái ở Việt Nam gồm ngành Đen và ngành Trắng, nói nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, sống trong bản mường, thờ tổ tiên và giữ nhiều lễ hội truyền thống.
Thờ cúng tổ tiên là phong tục lâu đời, chuẩn mực đạo đức và phần quan trọng trong đời sống tâm linh người Việt, với bàn thờ, ngày giỗ và lễ Tết.
Dân tộc Lào ở Việt Nam gọi mình là Thay, nói tiếng nhóm Tày - Thái, sống ở Lai Châu và Sơn La, thờ tổ tiên và đón Tết Bun Pi May tháng 4 âm lịch.
Dân tộc Co sống lâu đời ở tây bắc Quảng Ngãi, tây nam Quảng Nam, nói tiếng nhóm Môn-Khơ Me, có hệ thống thờ cúng phong phú và lễ đâm trâu lớn nhất năm.
Kiêng kỵ dân gian khi cúng ngày Rằm, mùng Một: tránh hoa quả giả, đồ chay giả mặn, không đốt quá nhiều vàng mã, không xê dịch bát hương, giữ tâm thành kính.
Dân tộc Giáy cư trú ở Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu, nói tiếng thuộc ngữ hệ Thái - Ka Đai. Tín ngưỡng gắn với bàn thờ gian giữa và các lễ tết.
Dân tộc La Hủ nói tiếng thuộc nhóm Tạng - Miến, cư trú chủ yếu ở Mường Tè, Lai Châu, với tập tục thờ cúng tổ tiên và các lễ hội như tết tháng bảy, cơm mới.
Dân tộc Xơ Đăng gồm các nhóm Xơ Teng, Tơ Đrá, Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng, Tà Trĩ, Châu, cư trú ở Kon Tum, Quảng Nam, Quảng Ngãi, thờ thần nước, thần lúa.
Dân tộc Mạ sống chủ yếu ở Lâm Đồng và Đồng Nai, nói tiếng nhóm Môn - Khơ Me, thờ thần Yang và có lễ đâm trâu lớn sau mùa rẫy.
Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh, thể hiện truyền thống Uống nước nhớ nguồn của người Việt.
Dân tộc Brâu cư trú tập trung ở làng Đắc Mế, xã Bờ Y, Kon Tum. Tiếng nói thuộc nhóm Môn-Khơ Me, đời sống gắn với thờ cúng thần linh và lễ ăn mừng cơm mới.
Hầu hết công cụ không cần tài khoản. Hồ sơ để lưu và đọc tiếp.
Chọn ngôn ngữ
Trang này chưa có đủ ba bản ngôn ngữ.