Câu đối Tết có từ đâu và người xưa treo ở đâu?
Câu đối Tết được cho là bắt nguồn từ thẻ gỗ đào khắc thần giữ cửa của Trung Hoa cổ. Người xưa dán ở cửa, cột nhà, bàn thờ và viết theo luật đối.
Hầu hết tiện ích không cần tài khoản. Hồ sơ để lưu và đọc tiếp.
Chọn ngôn ngữ
Trang này chưa có đủ ba bản ngôn ngữ.
Anh chị có thể thử:
Câu đối Tết được cho là bắt nguồn từ thẻ gỗ đào khắc thần giữ cửa của Trung Hoa cổ. Người xưa dán ở cửa, cột nhà, bàn thờ và viết theo luật đối.
Phong tục đón Tết của người Dao Quần Chẹt ở Phú Thọ gồm cúng tổ tiên, gói bánh chưng, bánh dày, dịp sum họp và tưởng nhớ nguồn cội.
Khám phá lễ hội Khai hạ của người Mường Hòa Bình: nguồn gốc, ý nghĩa tâm linh, các nghi thức đặc sắc và vai trò của lễ hội trong đời sống văn hóa cộng đồng.
Tết mùa mưa Dế Khù Chà của người Hà Nhì gắn với nghi lễ gọi hồn, bánh dày, cây đu và lời cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu; mỗi bản chọn ngày riêng.
Lễ cúng rước ông bà chiều 30 Tết là nghi thức Tất niên mời tổ tiên về ăn Tết cùng con cháu. Ba miền Bắc, Trung, Nam khác nhau chủ yếu ở mâm cỗ và mâm ngũ quả.
Khám phá quy trình chọn ngày cưới của người Dao ở Tuyên Quang: xem tuổi theo ngũ hành, nhờ thầy chọn giờ tốt, cùng các nghi lễ đặc sắc trong đám cưới.
Phép xem ngày tốt xấu bắt nguồn từ nhật thư khai quật trong mộ thời Chiến Quốc, Tần, Hán, đã thành hệ thống từ thế kỷ 3 trước Công nguyên.
Nhật Chủ (Nhật Nguyên) là Thiên Can Trụ Ngày trong Bát Tự, đại diện bản thân và là trung tâm luận đoán. Tìm hiểu vai trò, cách dùng và phân biệt với Nhật Can.
Dân tộc Cống là một trong 54 dân tộc Việt Nam, cư trú chủ yếu ở Lai Châu, nói tiếng thuộc nhóm Tạng - Miến và giữ nhiều tập tục thờ cúng, lễ hội riêng.
Dân tộc Lự thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, cư trú chủ yếu ở Lai Châu, với tập tục thờ cúng và các lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc văn hoá riêng.
Dân tộc Mảng thuộc 54 dân tộc Việt Nam, cư trú chủ yếu ở Lai Châu, nói tiếng nhóm Môn - Khơ Me. Bài viết điểm lại nguồn gốc, tập tục thờ cúng và lễ hội chính.
Dân tộc Thái ở Việt Nam gồm ngành Đen và ngành Trắng, nói nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, sống trong bản mường, thờ tổ tiên và giữ nhiều lễ hội truyền thống.
Dân tộc Nùng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, cư trú chủ yếu ở các tỉnh Đông Bắc. Tìm hiểu tiếng nói, tập tục thờ cúng và các lễ hội chính của người Nùng.
Dân tộc Lào ở Việt Nam gọi mình là Thay, nói tiếng nhóm Tày - Thái, sống ở Lai Châu và Sơn La, thờ tổ tiên và đón Tết Bun Pi May tháng 4 âm lịch.
Dân tộc Chu Ru sống chủ yếu ở Lâm Đồng và Ninh Thuận, nói tiếng nhóm Malayô-Polynêxia, theo chế độ mẫu hệ, thờ cúng gắn với chu kỳ canh tác ruộng nước.
Dân tộc Mạ sống chủ yếu ở Lâm Đồng và Đồng Nai, nói tiếng nhóm Môn - Khơ Me, thờ thần Yang và có lễ đâm trâu lớn sau mùa rẫy.
Dân tộc Ngái là một trong 54 dân tộc Việt Nam, dân số rất ít, cư trú phân tán ở Quảng Ninh, Hải Phòng, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng.
Dân tộc Cờ Lao cư trú ở Hà Giang, nói tiếng nhóm Ka Đai, thờ thần đất và hồn lúa, ăn Tết Nguyên đán cùng các Tết mùng 3 tháng 3, mùng 5 tháng 5.
Dân tộc Bố Y gồm hai nhóm địa phương Bố Y và Tu Dí, cư trú ở Hà Giang và Lào Cai, nói hai ngữ hệ khác nhau và giữ nhiều tập tục thờ cúng, lễ tết riêng.
Dân tộc Giáy cư trú ở Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu, nói tiếng thuộc ngữ hệ Thái - Ka Đai. Tín ngưỡng gắn với bàn thờ gian giữa và các lễ tết.
Người Ê Đê thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô-Pôlinêxia, cư trú chủ yếu ở Đắk Lắk, nam Gia Lai, tây Phú Yên và Khánh Hòa, theo chế độ mẫu hệ, thờ đa thần.
Dân tộc Xơ Đăng gồm các nhóm Xơ Teng, Tơ Đrá, Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng, Tà Trĩ, Châu, cư trú ở Kon Tum, Quảng Nam, Quảng Ngãi, thờ thần nước, thần lúa.
Dân tộc Brâu cư trú tập trung ở làng Đắc Mế, xã Bờ Y, Kon Tum. Tiếng nói thuộc nhóm Môn-Khơ Me, đời sống gắn với thờ cúng thần linh và lễ ăn mừng cơm mới.
Dân tộc Hà Nhì thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng Miến, cư trú ở Lai Châu và Lào Cai, có tập tục thờ cúng tổ tiên theo gia đình và các lễ tết riêng.
Dân tộc Xtiêng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me, cư trú chủ yếu ở Bình Phước. Bài viết phân tích nơi ở, tiếng nói, tập tục thờ cúng và các lễ hội chính.
Dân tộc Kháng cư trú lâu đời ở Tây Bắc, chủ yếu tại Lai Châu và Sơn La, nói tiếng nhóm Môn - Khơ Me, thờ cúng tổ tiên và có lễ hội riêng.
Dân tộc Thổ thuộc nhóm ngôn ngữ Việt Mường, cư trú chủ yếu ở miền Tây Nghệ An và Thanh Hoá, có hệ thống thờ cúng thần linh, tổ tiên và bà mụ riêng.
Dân tộc Ra Glai sống ở vùng núi Nam Trung Bộ, nói tiếng nhóm Malayô-Pôlynêxia, theo chế độ mẫu hệ và có hệ lễ nghi nông nghiệp, thờ cúng riêng.
Dân tộc Lô Lô thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến, cư trú chủ yếu ở Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, có hai nhóm Lô Lô Hoa và Lô Lô Đen cùng nhiều tập tục riêng.
Dân tộc Bru - Vân Kiều có 94.598 người, cư trú dọc Trường Sơn ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế. Tiếng nói, thờ cúng và lễ hội chính.
Dân tộc Gia Rai thuộc ngữ hệ Nam Đảo, cư trú chủ yếu ở Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, theo chế độ mẫu hệ, thờ đa thần Yang và có lễ bỏ mả nổi tiếng.
Dân tộc Rơ Măm thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me, cư trú tập trung ở Kon Tum. Tìm hiểu tiếng nói, tập tục thờ cúng và các lễ hội chính của người Rơ Măm.
Dân tộc Phù Lá gồm các nhóm Phù Lá Lão, Phù Lá Đen, Phù Lá Hán, sống ở Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu. Tìm hiểu tiếng nói, thờ cúng, lễ tết.
Dân tộc Khmer (Khơ Me) có 1.319.652 người theo điều tra 2019, cư trú chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long, nói tiếng nhóm Môn - Khơ Me, thờ Phật và tổ tiên.
Dân tộc Chơ Ro cư trú chủ yếu ở vùng núi thấp Đồng Nai, nói tiếng nhóm Môn-Khơ Me, có lễ cúng thần lúa và lễ cúng thần rừng tổ chức ba năm một lần.
Dân tộc Pu Péo có 903 người theo điều tra 2019, cư trú tại Hà Giang, nói tiếng nhóm Ka Đai. Tìm hiểu tập tục thờ cúng, cưới xin, ma chay và lễ tết.
Dân tộc Chăm (Chàm) thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô-Polynéxia, cư trú chủ yếu ở Ninh Thuận, Bình Thuận và Nam Bộ, có hệ thờ cúng tổ tiên và lễ Katê đặc sắc.
Xem ngày tốt xấu hôm nay theo lịch âm dựa trên can chi, trực, sao và giờ hoàng đạo. Bài giải thích nguyên lý, cách tra và giới hạn của việc chọn ngày.
Dân tộc Cơ Ho cư trú chủ yếu ở Lâm Đồng, nói tiếng nhóm Môn-Khơ Me, theo chế độ mẫu hệ, thờ thần Yang và ma Chà, có lễ ăn Tết đâm trâu sau mùa thu hoạch.
Dân tộc Xinh Mun thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me, cư trú chủ yếu ở Sơn La và Lai Châu, có tục ở rể, thờ cúng tổ tiên hai đời và lễ cúng bản hằng năm.
Dân tộc Sán Chay gồm hai nhóm Cao Lan và Sán Chỉ, cư trú ở vùng Đông Bắc Việt Nam. Tìm hiểu tiếng nói, nhà sàn, tập tục thờ cúng và các lễ hội chính.
Dân tộc Si La cư trú ở Mường Tè, Lai Châu, nói tiếng thuộc nhóm Tạng Miến, thờ cúng tổ tiên và có lễ cúng bàn, tết năm mới, tết cơm mới.
Dân tộc Pà Thẻn thuộc ngữ hệ Hmông-Dao, cư trú tại Hà Giang và Tuyên Quang, nổi bật với thờ cúng tổ tiên, lễ cơm mới và nghề dệt thổ cẩm truyền thống.
Dân tộc Khơ Mú thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me, cư trú lâu đời ở Tây Bắc Việt Nam, có hệ thờ cúng năm loại ma và tết cơm mới sau vụ gặt tháng 10 âm lịch.
Dân tộc Mông (Mèo, H'Mông) có 1. 393. 547 người theo điều tra 2019, gồm các nhóm Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Đỏ, Mông Đen, Mông Xanh.
Khám phá Lễ hội Lồng Tồng của người Tày, nghi thức xuống đồng đầu năm với ước vọng mùa màng bội thu, cùng các giá trị văn hóa và nghi lễ đặc sắc.
Cây nêu được dựng từ 23 tháng Chạp và hạ xuống mùng 7 tháng Giêng, khép lại Tết Nguyên đán. Tìm hiểu nguồn gốc, ý nghĩa và nghi lễ khai hạ.
Hầu hết tiện ích không cần tài khoản. Hồ sơ để lưu và đọc tiếp.
Chọn ngôn ngữ
Trang này chưa có đủ ba bản ngôn ngữ.