Quẻ Lôi Hỏa Phong (số 55, 豐) nói gì về lúc thịnh lớn, và vì sao mặt trời đứng bóng rồi sẽ xế?
Quẻ Lôi Hỏa Phong số 55 trong Kinh Dịch nói về thời thịnh lớn, hanh thông, nên như mặt trời giữa trưa, kèm lời nhắc mặt trời đứng bóng rồi sẽ xế.
Hầu hết công cụ không cần tài khoản. Hồ sơ để lưu và đọc tiếp.
Chọn ngôn ngữ
Trang này chưa có đủ ba bản ngôn ngữ.
Quẻ Lôi Hỏa Phong số 55 trong Kinh Dịch nói về thời thịnh lớn, hanh thông, nên như mặt trời giữa trưa, kèm lời nhắc mặt trời đứng bóng rồi sẽ xế.
Quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp (quẻ 21) trong Kinh Dịch: tượng quẻ, ý nghĩa về pháp chế, xử lý trở ngại và ứng dụng lời khuyên vào công việc, các mối quan hệ.
Quẻ Địa Trạch Lâm trong Kinh Dịch: cấu trúc các hào, tương tác giữa Địa và Trạch, cùng bài học về lãnh đạo, nuôi dưỡng và phát triển bền vững.
Quẻ Sơn Hỏa Bí (quẻ 22) trong Kinh Dịch nói về vẻ đẹp hình thức, sự trang sức và văn hóa bề ngoài, kèm ứng dụng trong cuộc sống, công việc, giao tiếp.
Quẻ Sơn Địa Bác (quẻ 23) trong Kinh Dịch: núi trên đất, thời Âm thịnh Dương suy, bài học nhận diện lúc suy tàn để thuận thời và chờ cơ phục hồi.
Hội xuân sau Tết: ném còn, đẩy gậy, đánh đu của đồng bào Lai Châu và trò pháo đất ở Hải Dương, kèm luật chơi, thời gian và ý nghĩa theo báo chí.
Tết mùa mưa Dế Khù Chà của người Hà Nhì gắn với nghi lễ gọi hồn, bánh dày, cây đu và lời cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu; mỗi bản chọn ngày riêng.
Khám phá Lễ hội Lùng Tùng của người Thái ở Tây Bắc: nguồn gốc, nghi lễ cúng Nàng Han, ý nghĩa nông nghiệp và các hoạt động phần hội đặc sắc.
Lễ hội Cổ Loa diễn ra ngày mùng 6 tháng Giêng âm lịch tại đền Thượng, huyện Đông Anh, Hà Nội, tưởng nhớ An Dương Vương và tôn vinh di sản Loa Thành.
Tín ngưỡng phồn thực cầu mong sinh sôi, mùa màng tốt tươi, gắn với văn minh lúa nước Việt cổ, thể hiện qua Linga–Yoni, lễ Trò Trám, tượng nhà mồ Tây Nguyên.
Tết Doi là lễ hội mời bà lúa, cô lúa về bản của người Mường xã Thu Cúc, Phú Thọ, gắn với nghi lễ rước lúa từ đền thờ Nàng Cúc.
Lễ hội chùa Keo Hành Thiện diễn ra trung tuần tháng Chín âm lịch, thờ Thiền sư Dương Không Lộ, với bơi chải, đếm tôm, bắt vịt, cờ người và kiến trúc Hậu Lê.
Lễ hội đền Mẫu Âu Cơ ở Phú Thọ diễn ra mùng 6 và mùng 7 tháng Giêng, gồm tế nữ quan, rước kiệu và lễ vật chay: trăm bánh mật, chè kho, bánh ít.
Dân tộc Chứt thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường, cư trú chủ yếu ở Quảng Bình, có các nhóm Mày, Rục, Sách, Arem, Mã Liềng với tập tục thờ cúng và lễ hội riêng.
Múa rối nước ra đời từ văn minh lúa nước, biểu diễn trên mặt nước với thuỷ đình che khuất cơ chế. Nghệ nhân dùng sào và dây điều khiển rối gỗ.
Dân tộc La Chí cư trú chủ yếu ở Hà Giang, nói tiếng nhóm Ka Đai, có hệ thống bàn thờ riêng theo từng người đàn ông và các trò chơi dân gian ngày Tết.
Tết Khụ Sự Chà của người Hà Nhì ở Mường Nhé, Điện Biên là dịp tạ ơn tổ tiên, sum họp gia đình với nghi lễ cúng bánh trôi, bói gan lợn và giã bánh dày.
Huyền thoại Chử Đồng Tử và Tiên Dung, chuyện tình vượt giai cấp, hành trình hóa thánh và vị thế trong Tứ Bất Tử gắn với nhiều lễ hội ở đồng bằng sông Hồng.
Lễ hội Đền Hùng tại Phú Thọ diễn ra mùng 10 tháng 3 âm lịch, tưởng nhớ công dựng nước của các Vua Hùng với phần lễ trang nghiêm và phần hội dân gian đặc sắc.
Lễ hội Tiên Công vùng đảo Hà Nam, Quảng Ninh diễn ra mùng 7 tháng Giêng với nghi lễ rước người, rước thọ. Tìm hiểu 17 vị tiên công và trình tự lễ hội.
Dân tộc Dao trong 54 dân tộc Việt Nam: nơi cư trú, tiếng nói thuộc ngữ hệ Hmông - Dao, các nhóm địa phương, tập tục thờ cúng và lễ cấp sắc.
Dân tộc Mông (Mèo, H'Mông) có 1. 393. 547 người theo điều tra 2019, gồm các nhóm Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Đỏ, Mông Đen, Mông Xanh.
Dân tộc Kinh (Việt) chiếm hơn 86% dân số, nói tiếng Việt thuộc nhóm Việt Mường. Tìm hiểu nơi cư trú, làng xã, tục thờ cúng tổ tiên và các lễ tết chính.
Dân tộc Mường thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường, cư trú chủ yếu ở Hòa Bình, Thanh Hóa, Phú Thọ, có kho tàng mo, lễ hội và tập tục thờ cúng riêng.
Lễ hội Tịch điền Đọi Sơn ở Hà Nam tái hiện nghi lễ vua Lê Đại Hành cày ruộng năm 987, diễn ra mùng 5 đến mùng 7 tháng Giêng, tôn vinh truyền thống trọng nông.
Dân tộc Bố Y gồm hai nhóm địa phương Bố Y và Tu Dí, cư trú ở Hà Giang và Lào Cai, nói hai ngữ hệ khác nhau và giữ nhiều tập tục thờ cúng, lễ tết riêng.
Thiền sư Vạn Hạnh là nhà sư thời Lý, gắn với truyện về Lý Công Uẩn. Bài kệ Thị đệ tử của ông nói về vô thường, sinh tử và sự thịnh suy.
Thiên Can Canh thuộc Dương Kim, gắn với phương Tây, mùa thu và quẻ Càn trong Kinh Dịch. Tìm hiểu đặc tính, ý nghĩa và ảnh hưởng của Canh trong hệ Can Chi.
Quẻ Đoài (☱) trong Bát Quái: biểu tượng đầm lầy, con gái út, hành Kim, phương Tây, cùng năng lượng vui vẻ, giao tiếp và lời nhắc cẩn trọng trước cám dỗ.
Quẻ Hỏa Phong Đỉnh số 50 trong Kinh Dịch nói về cái vạc ba chân, biểu tượng nấu chín cái mới sau khi đã bỏ cái cũ, gồm quái từ, tượng từ và sáu hào từ.
Quẻ Thuần Càn, quẻ đầu tiên trong 64 quẻ Kinh Dịch, tượng trưng cho trời và sự khởi nguyên. Sáu hào dương mở ra bài học về cách hành xử của bậc quân tử.
Quẻ Hỏa Thiên Đại Hữu trong Kinh Dịch: cấu trúc, ý nghĩa triết lý và bài học về sự thịnh vượng, khiêm cường, chia sẻ để giữ phúc khí lâu dài.
Hầu hết công cụ không cần tài khoản. Hồ sơ để lưu và đọc tiếp.
Chọn ngôn ngữ
Trang này chưa có đủ ba bản ngôn ngữ.