Dân tộc Pà Thẻn: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Dân tộc Pà Thẻn thuộc ngữ hệ Hmông-Dao, cư trú tại Hà Giang và Tuyên Quang, nổi bật với thờ cúng tổ tiên, lễ cơm mới và nghề dệt thổ cẩm truyền thống.
Tra cứu
Hồ sơ giúp anh chị
Gói của Nhật Nguyệt
Hầu hết tiện ích không cần tài khoản. Hồ sơ để lưu và đọc tiếp.
Chọn ngôn ngữ
Trang này chưa có đủ ba bản ngôn ngữ.
Tiếng Pà Thẻn thuộc ngữ hệ Hmông-Dao. Bên cạnh tiếng mẹ đẻ, nhiều người Pà Thẻn biết đọc, viết chữ Nôm Tày, Nùng.
Lấy từ bài “Dân tộc Pà Thẻn: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính”
Dân tộc Pà Thẻn thuộc ngữ hệ Hmông-Dao, cư trú tại Hà Giang và Tuyên Quang, nổi bật với thờ cúng tổ tiên, lễ cơm mới và nghề dệt thổ cẩm truyền thống.
Lễ hội Nhảy lửa của người Pà Thẻn là nghi thức shaman thiêng liêng, cầu thần lửa che chở cho cộng đồng, với màn nhảy chân trần trên than hồng.
Văn hoá Tây Bắc gồm cộng đồng cư trú đa dân tộc, tín ngưỡng, lễ hội theo mùa và nghề thủ công truyền thống, mỗi nhóm ngành mang bản sắc riêng.
Tổng quan các loại lễ hội truyền thống Việt Nam: lễ hội nông nghiệp, lễ hội tín ngưỡng, lễ hội tưởng niệm và lễ hội dân tộc.
Việt Nam có 54 dân tộc theo Danh mục các thành phần dân tộc năm 1979. Danh mục chính thức, phân bố theo vùng và nét văn hoá chung.
Dân tộc Ngái là một trong 54 dân tộc Việt Nam, dân số rất ít, cư trú phân tán ở Quảng Ninh, Hải Phòng, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng.
Tháng 11/2026 (23/9 đến 22/10 âm lịch) có Festival Trà Thái Nguyên, Cồng chiêng Gia Lai, Ok Om Bok, Kathina và nhiều lễ khác.
So sánh Tết Nguyên Đán của người Kinh, Chôl Chnăm Thmây của người Khmer và các dân tộc đón Tết theo lịch riêng: thời điểm, lễ vật, nghi thức và cách gọi tên.
Khám phá nét riêng trong lễ cưới của người Dao Đỏ ở Tả Phìn, Sa Pa, từ tục cô dâu tự về nhà chồng đến các nghi lễ giàu ý nghĩa cộng đồng.
Lễ hội Roóng Poọc của người Giáy ở Sa Pa là nghi lễ xuống đồng đầu xuân, gồm dựng cây nêu, ném còn, kéo co, thi cày, cầu mùa màng bội thu.
Tết Sử Giề Pà (Lễ tạ ơn trâu) của người Bố Y ở Lào Cai diễn ra ngày 8/4 âm lịch với mâm lễ chung của cả làng, tạ ơn trâu và cầu mùa màng.
Dân tộc Tày có 1.845.492 người theo điều tra 2019, cư trú ở thung lũng Đông Bắc, nói tiếng Tày - Thái, thờ tổ tiên và giữ các lễ hội lồng tồng đặc trưng.
Hát Quan Làng là linh hồn đám cưới người Tày, gồm ba cung đoạn Đón, Nộp, Đưa. Các Pú Quan Làng đối đáp thơ ca, hoàn tất thủ tục xin dâu, đón dâu.
Tết Hoa mào gà là lễ hội lớn nhất năm của người Cống ở Điện Biên, ở Pa Thơm thường vào khoảng rằm tháng 10 Âm lịch; hoa mào gà là hoa linh thiêng khi cúng.
Dân tộc Phù Lá gồm các nhóm Phù Lá Lão, Phù Lá Đen, Phù Lá Hán, sống ở Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu. Tìm hiểu tiếng nói, thờ cúng, lễ tết.
Dân tộc Tà Ôi sống ở tây Quảng Trị và tây Thừa Thiên Huế, nói nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me, thờ cúng đa thần và có lễ hội gắn với chu kỳ canh tác rẫy.
Tục nhuộm răng đen của người Việt từng là chuẩn mực cái đẹp suốt nhiều thế kỷ. Bài viết phân tích cách nhuộm, nguyên liệu và lý do phong tục này mai một.
Dân tộc La Hủ nói tiếng thuộc nhóm Tạng - Miến, cư trú chủ yếu ở Mường Tè, Lai Châu, với tập tục thờ cúng tổ tiên và các lễ hội như tết tháng bảy, cơm mới.
Phong tục cưới hỏi người Chăm Nam Bộ theo Hồi giáo Islam gồm lễ dạm ngõ và lễ cưới chính, với vai trò người mối, lễ vật trầu cau và tiền thách cưới.
Chợ tình Khâu Vai họp mỗi năm một lần tại Hà Giang, gắn với huyền thoại chàng Ba nàng Út, là không gian gặp gỡ của những người từng yêu nhau.
Dân tộc Chăm (Chàm) thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô-Polynéxia, cư trú chủ yếu ở Ninh Thuận, Bình Thuận và Nam Bộ, có hệ thờ cúng tổ tiên và lễ Katê đặc sắc.
Phong tục các dân tộc thiểu số Việt Nam đa dạng ở cưới hỏi, dựng nhà, thờ cúng và ứng xử cộng đồng, gắn với môi trường sống và tín ngưỡng bản địa.
Dân tộc Giẻ Triêng sống quanh quần sơn Ngọc Linh, nói tiếng nhóm Môn Khơ Me, thờ đa thần và giữ nhiều lễ thức nông nghiệp gắn với chu kỳ rẫy.
Khám phá phong tục ăn Tết sớm độc đáo của người Si La ở Lai Châu: thời điểm tổ chức theo mùa vụ, nghi lễ mổ lợn, cúng tổ tiên và những nét văn hóa đặc sắc.
Dân tộc Chứt thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường, cư trú chủ yếu ở Quảng Bình, có các nhóm Mày, Rục, Sách, Arem, Mã Liềng với tập tục thờ cúng và lễ hội riêng.
Nghiên cứu nhân học cho thấy xem ngày xuất hành, cúng xe mới, treo bùa bình an là cách người Việt kiểm soát rủi ro tâm lý trước bất trắc giao thông.
Khám phá ý nghĩa màu đỏ, kỹ thuật chế tác, sự khác biệt trong trang phục nam nữ và giá trị văn hóa của trang phục truyền thống người Dao Đỏ.
Rija Nagar là lễ hội đầu năm quan trọng nhất của người Chăm Bà-la-môn, cầu mưa thuận gió hòa và tống tiễn điều rủi ro của năm cũ.
Tết Nào Pê Chầu của người Mông ăn sớm hơn Tết Nguyên Đán một tháng, vào đầu tháng Chạp, gồm lễ quét bồ hóng, cúng Xử Ka, tất niên, lấy nước lộc và hạ mâm.
Dân tộc Lào ở Việt Nam gọi mình là Thay, nói tiếng nhóm Tày - Thái, sống ở Lai Châu và Sơn La, thờ tổ tiên và đón Tết Bun Pi May tháng 4 âm lịch.
Dân tộc Brâu cư trú tập trung ở làng Đắc Mế, xã Bờ Y, Kon Tum. Tiếng nói thuộc nhóm Môn-Khơ Me, đời sống gắn với thờ cúng thần linh và lễ ăn mừng cơm mới.
Dân tộc Gia Rai thuộc ngữ hệ Nam Đảo, cư trú chủ yếu ở Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, theo chế độ mẫu hệ, thờ đa thần Yang và có lễ bỏ mả nổi tiếng.
Dương Nhận là vị trí trước Lộc một ngôi của can dương, trùng ngôi Đế Vượng. Bài giải thích cách tra theo nhật chủ, quan hệ với Lộc, Phi Nhận.
Nguyệt phá trong Lục Hào là hào bị chi tháng xung, thường lấy làm điềm suy bại. Bài phân tích khi nào phá mà không phá theo Tăng san bốc dịch và các phái.
Quẻ Ly tượng mặt trời, quẻ Khảm tượng mặt trăng, hợp thành đạo Nhật Nguyệt trong Kinh Dịch. Bài phân tích tượng quẻ, lời hào và cách hiểu của các phái.
Quẻ Trạch Phong Đại Quá (số 28) trong Kinh Dịch: cấu trúc, ý nghĩa triết lý về gánh nặng vượt mức và lời khuyên ứng xử linh hoạt khi đối mặt áp lực lớn.