Những điều kiêng kỵ ngày Tết theo phong tục xưa
Khám phá những điều kiêng kỵ ngày Tết của người Việt theo phong tục xưa: kiêng quét nhà, kiêng cho lửa, kiêng làm vỡ đồ... và ý nghĩa tâm linh đằng sau.
Hầu hết tiện ích không cần tài khoản. Hồ sơ để lưu và đọc tiếp.
Chọn ngôn ngữ
Trang này chưa có đủ ba bản ngôn ngữ.
Khám phá những điều kiêng kỵ ngày Tết của người Việt theo phong tục xưa: kiêng quét nhà, kiêng cho lửa, kiêng làm vỡ đồ... và ý nghĩa tâm linh đằng sau.
Dân tộc Nùng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, cư trú chủ yếu ở các tỉnh Đông Bắc. Tìm hiểu tiếng nói, tập tục thờ cúng và các lễ hội chính của người Nùng.
Phong tục tập quán Việt Nam gắn với văn hóa lúa nước và thờ cúng tổ tiên. Bài viết nêu định nghĩa, nguồn gốc cùng phong tục Tết tiêu biểu như cúng ông Táo.
Tín ngưỡng dân gian Việt Nam gồm thờ cúng tổ tiên, thần linh, Đạo Mẫu, tín ngưỡng nông nghiệp và các nghi lễ của nhiều dân tộc. Tổng quan các nhánh chính.
Tết Đoan Ngọ mùng 5 tháng 5 âm lịch cúng gì trên bàn thờ, cúng ai, và mâm lễ ba miền khác nhau ra sao? Tục giết sâu bọ, lễ vật và giờ cúng.
Dân tộc Kinh (Việt) chiếm hơn 86% dân số, nói tiếng Việt thuộc nhóm Việt Mường. Tìm hiểu nơi cư trú, làng xã, tục thờ cúng tổ tiên và các lễ tết chính.
Thiền uyển tập anh ghi tiểu sử và thi kệ thiền sư Việt Nam thời Lý, Trần, nhưng giới nghiên cứu nay xem đây là sự sắp đặt có chủ đích.
Xông đất đầu năm là tục cổ Tết Việt, tin người đầu tiên vào nhà mang khí vận cả năm. Người xưa chọn người hợp tuổi, gia đạo yên ổn; nay tục dần giản lược.
Khám phá tiết Thanh minh, nguồn gốc và ý nghĩa tục tảo mộ của người Việt, cùng sự khác biệt thú vị so với văn hóa du xuân của Trung Quốc.
Tổng hợp các phong tục Tết Nguyên Đán truyền thống: cúng ông Công ông Táo, giao thừa, xông đất, mừng tuổi, và ý nghĩa văn hóa.
Dân tộc Chứt thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường, cư trú chủ yếu ở Quảng Bình, có các nhóm Mày, Rục, Sách, Arem, Mã Liềng với tập tục thờ cúng và lễ hội riêng.
Tìm hiểu ý nghĩa văn hóa và vai trò của trầu cau trong nghi lễ cưới hỏi người Việt, từ truyền thuyết sự tích đến các phong tục hiện đại.
Dân tộc Co sống lâu đời ở tây bắc Quảng Ngãi, tây nam Quảng Nam, nói tiếng nhóm Môn-Khơ Me, có hệ thống thờ cúng phong phú và lễ đâm trâu lớn nhất năm.
Dân tộc Thái ở Việt Nam gồm ngành Đen và ngành Trắng, nói nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, sống trong bản mường, thờ tổ tiên và giữ nhiều lễ hội truyền thống.
Dân tộc Lào ở Việt Nam gọi mình là Thay, nói tiếng nhóm Tày - Thái, sống ở Lai Châu và Sơn La, thờ tổ tiên và đón Tết Bun Pi May tháng 4 âm lịch.
Dân tộc Mnông thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me, cư trú lâu đời ở trung Tây Nguyên, nổi bật với văn hóa mẫu hệ, lễ đâm trâu và kho sử thi truyền miệng.
Dân tộc Dao trong 54 dân tộc Việt Nam: nơi cư trú, tiếng nói thuộc ngữ hệ Hmông - Dao, các nhóm địa phương, tập tục thờ cúng và lễ cấp sắc.
Người Hrê cư trú chủ yếu ở miền tây Quảng Ngãi và An Lão, Bình Định, nói tiếng nhóm Môn - Khơ Me, có hệ thống thờ cúng đa thần và lễ đâm trâu lớn nhất.
Dân tộc Kháng cư trú lâu đời ở Tây Bắc, chủ yếu tại Lai Châu và Sơn La, nói tiếng nhóm Môn - Khơ Me, thờ cúng tổ tiên và có lễ hội riêng.
Dân tộc Lự thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, cư trú chủ yếu ở Lai Châu, với tập tục thờ cúng và các lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc văn hoá riêng.
Dân tộc Mạ sống chủ yếu ở Lâm Đồng và Đồng Nai, nói tiếng nhóm Môn - Khơ Me, thờ thần Yang và có lễ đâm trâu lớn sau mùa rẫy.
Dân tộc Mảng thuộc 54 dân tộc Việt Nam, cư trú chủ yếu ở Lai Châu, nói tiếng nhóm Môn - Khơ Me. Bài viết điểm lại nguồn gốc, tập tục thờ cúng và lễ hội chính.
Dân tộc Mường thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường, cư trú chủ yếu ở Hòa Bình, Thanh Hóa, Phú Thọ, có kho tàng mo, lễ hội và tập tục thờ cúng riêng.
Dân tộc Ngái là một trong 54 dân tộc Việt Nam, dân số rất ít, cư trú phân tán ở Quảng Ninh, Hải Phòng, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng.
Dân tộc Tày có 1.845.492 người theo điều tra 2019, cư trú ở thung lũng Đông Bắc, nói tiếng Tày - Thái, thờ tổ tiên và giữ các lễ hội lồng tồng đặc trưng.
Dân tộc Thổ thuộc nhóm ngôn ngữ Việt Mường, cư trú chủ yếu ở miền Tây Nghệ An và Thanh Hoá, có hệ thống thờ cúng thần linh, tổ tiên và bà mụ riêng.
Dân tộc Xtiêng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me, cư trú chủ yếu ở Bình Phước. Bài viết phân tích nơi ở, tiếng nói, tập tục thờ cúng và các lễ hội chính.
Dân tộc Brâu cư trú tập trung ở làng Đắc Mế, xã Bờ Y, Kon Tum. Tiếng nói thuộc nhóm Môn-Khơ Me, đời sống gắn với thờ cúng thần linh và lễ ăn mừng cơm mới.
Dân tộc Cống là một trong 54 dân tộc Việt Nam, cư trú chủ yếu ở Lai Châu, nói tiếng thuộc nhóm Tạng - Miến và giữ nhiều tập tục thờ cúng, lễ hội riêng.
Dân tộc Giáy cư trú ở Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu, nói tiếng thuộc ngữ hệ Thái - Ka Đai. Tín ngưỡng gắn với bàn thờ gian giữa và các lễ tết.
Tục nhuộm răng đen của người Việt từng là chuẩn mực cái đẹp suốt nhiều thế kỷ. Bài viết phân tích cách nhuộm, nguyên liệu và lý do phong tục này mai một.
Dân tộc La Ha thuộc nhóm ngôn ngữ Ka Đai, cư trú ở Yên Bái và Sơn La. Bài viết tổng hợp tên gọi, dân số, nhà ở, hôn nhân và tập tục thờ cúng của người La Ha.
Dân tộc Rơ Măm thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me, cư trú tập trung ở Kon Tum. Tìm hiểu tiếng nói, tập tục thờ cúng và các lễ hội chính của người Rơ Măm.
Dân tộc Sán Dìu thuộc 54 dân tộc Việt Nam, nói thổ ngữ Hán Quảng Đông, sống ở trung du Bắc Bộ với tập tục thờ cúng và hát soọng cô đặc trưng.
Dân tộc Cờ Lao cư trú ở Hà Giang, nói tiếng nhóm Ka Đai, thờ thần đất và hồn lúa, ăn Tết Nguyên đán cùng các Tết mùng 3 tháng 3, mùng 5 tháng 5.
Dân tộc Tà Ôi sống ở tây Quảng Trị và tây Thừa Thiên Huế, nói nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me, thờ cúng đa thần và có lễ hội gắn với chu kỳ canh tác rẫy.
Người Ê Đê thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô-Pôlinêxia, cư trú chủ yếu ở Đắk Lắk, nam Gia Lai, tây Phú Yên và Khánh Hòa, theo chế độ mẫu hệ, thờ đa thần.
Dân tộc Giẻ Triêng sống quanh quần sơn Ngọc Linh, nói tiếng nhóm Môn Khơ Me, thờ đa thần và giữ nhiều lễ thức nông nghiệp gắn với chu kỳ rẫy.
Dân tộc Hà Nhì thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng Miến, cư trú ở Lai Châu và Lào Cai, có tập tục thờ cúng tổ tiên theo gia đình và các lễ tết riêng.
Dân tộc Khơ Mú thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me, cư trú lâu đời ở Tây Bắc Việt Nam, có hệ thờ cúng năm loại ma và tết cơm mới sau vụ gặt tháng 10 âm lịch.
Chữ Nôm do người Việt tạo ra từ chất liệu chữ Hán để ghi tiếng Việt. Bài viết phân tích cấu tạo, Truyện Kiều bản Nôm và sức sống trên hoành phi câu đối.
Lịch sử văn hoá người Việt Nam được nhìn qua tín ngưỡng thờ thần, lễ hội làng, đạo Mẫu và kho văn bản Hán Nôm, cho thấy bề dày nhiều tầng lớp.
Tết Sài Gòn gắn với chợ hoa Nguyễn Huệ, chợ hoa Bến Bình Đông và Đường hoa Nguyễn Huệ. Bài phân tích nguồn gốc, nếp ăn Tết và sắc thái riêng của Sài Gòn.
Nhật Nguyệt là cặp từ Hán Việt chỉ mặt trời và mặt trăng, biểu tượng âm dương, thời gian và vũ trụ trong văn hoá Á Đông. Bài phân tích nghĩa và cách dùng.
Nghiên cứu nhân học cho thấy xem ngày xuất hành, cúng xe mới, treo bùa bình an là cách người Việt kiểm soát rủi ro tâm lý trước bất trắc giao thông.
Phật giáo Việt Nam gần hai mươi thế kỷ: từ trung tâm Luy Lâu, hoà vào tín ngưỡng bản địa, hưng thịnh thời Lý Trần, đến phong trào chấn hưng đầu thế kỷ 20.
Phong tục tiếng Anh là custom, còn tập quán là usage, truyền thống là tradition. Phân biệt ba từ này và bảng từ vựng phong tục Việt dịch sang tiếng Anh.
Quẻ Thuần Khảm số 29, tên kinh Tập Khảm, Khảm chồng Khảm, hai hào dương đắc trung bị âm vây. Quái từ, Tượng từ, sáu hào từ và bài học đi qua hiểm trùng lặp.
Theo Việt Nam phong tục, tế ngu tính từ ngày an táng: hôm chôn là sơ ngu, ngày thứ ba là tam ngu. Còn 49 ngày, 100 ngày, giỗ đầu thì đếm từ ngày mất.
Ngày Doanh nhân Việt Nam 13/10 được chính thức công nhận năm 2004, gắn với bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi giới công thương năm 1945.
Tiết Thu Phân, tiết thứ 16 trong 24 tiết khí, bắt đầu quanh 22 tới 24 tháng 9 khi Mặt Trời vào cung Thọ Tinh. Bài điểm gốc tích lịch pháp và tục lệ Trung Hoa.
Tam Thức gồm Thái Ất, Lục Nhâm, Kỳ Môn. Bài phân tích đường vào Việt Nam và tách rõ phần sử liệu với phần truyền thuyết quanh Nguyễn Bỉnh Khiêm.
158 câu hỏi đáp về 44 loại lễ cúng của người Việt Nam, ba thứ tiếng: câu người đọc thật hay hỏi (ngày giờ, mâm cúng, cách làm, khác biệt giữa các vùng) và lời đáp theo nguồn, kèm địa chỉ trang nguồn. Chỉ gồm câu đã soát.
132 điều kiêng và lưu ý khi làm lễ cúng của người Việt Nam, thuộc 38 loại lễ, mỗi dòng một câu ba thứ tiếng kèm lễ, vùng, truyền thống, loại và địa chỉ trang nguồn. Chỉ lấy từ các dòng nghi thức đã soát; là mô tả tục theo nguồn, không phải điều bắt buộc.
155 loại lễ cúng của người Việt Nam chia 15 nhóm, từ gia tiên, giỗ chạp, Tết, tiết lễ trong năm tới tang ma, đình đền phủ và lễ của các dân tộc; mỗi lễ kèm tên khác, thời điểm, đối tượng cúng, mô tả ngắn, các trục phân loại (chu kỳ, không gian, đối tượng thờ, truyền thống, dân tộc, vùng văn hoá), ngày lễ có cấu trúc và đoạn phong tục có nguồn. Là bảng khoá của các bộ văn cúng và phong tục lễ cúng của Nhật Nguyệt.
407 dòng nghi thức cúng: mỗi dòng là cách làm một lễ ở một vùng theo một truyền thống, gồm thời điểm, nơi cúng, người cúng, lễ vật kèm mã danh mục, trình tự, điều kiêng và lưu ý, kèm địa chỉ các trang nguồn hay tên sách nguồn. Chỗ các nguồn nói khác nhau ghi ở cột ghi_chu.
Hầu hết tiện ích không cần tài khoản. Hồ sơ để lưu và đọc tiếp.
Chọn ngôn ngữ
Trang này chưa có đủ ba bản ngôn ngữ.