Văn hoá Việt Bắc và vùng Đông Bắc: hát Then, chợ phiên và nếp sống bản làng
Việt Bắc và Đông Bắc là hai cách gọi có phạm vi khác nhau. Bài phân tích hát Then, chợ phiên, nếp sống bản làng và các dị bản theo từng địa phương.
Tra cứu
Hồ sơ giúp anh chị
Gói của Nhật Nguyệt
Hầu hết tiện ích không cần tài khoản. Hồ sơ để lưu và đọc tiếp.
Chọn ngôn ngữ
Trang này chưa có đủ ba bản ngôn ngữ.
Việt Bắc và Đông Bắc là hai cách gọi có phạm vi khác nhau. Bài phân tích hát Then, chợ phiên, nếp sống bản làng và các dị bản theo từng địa phương.
Hát Quan Làng là linh hồn đám cưới người Tày, gồm ba cung đoạn Đón, Nộp, Đưa. Các Pú Quan Làng đối đáp thơ ca, hoàn tất thủ tục xin dâu, đón dâu.
Khám phá Lễ hội Hoa Ban Điện Biên, sự kiện văn hóa đặc sắc tái hiện nghi lễ truyền thống của các dân tộc Tây Bắc như Thái, Mông, Dao, Hà Nhì.
Tín ngưỡng vạn vật hữu linh của người Thái Tây Bắc gắn với lễ Xên bản Xên mường cầu mưa thuận gió hòa và hội Hạn Khuống hát giao duyên sau vụ gặt.
Tết Doi là lễ hội mời bà lúa, cô lúa về bản của người Mường xã Thu Cúc, Phú Thọ, gắn với nghi lễ rước lúa từ đền thờ Nàng Cúc.
Khám phá lễ hội cầu mưa của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam: nguồn gốc, nghi thức, ý nghĩa tâm linh và vai trò trong đời sống cộng đồng nông nghiệp.
Lịch sử văn hoá người Việt Nam được nhìn qua tín ngưỡng thờ thần, lễ hội làng, đạo Mẫu và kho văn bản Hán Nôm, cho thấy bề dày nhiều tầng lớp.
Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không, Dương Không Lộ trong Lĩnh Nam chích quái là truyện truyền kỳ có phép lạ, khác tầng văn bản Phật giáo và tầng thờ cúng ở làng.
Tín ngưỡng thờ Tứ Pháp tại chùa Dâu kết hợp Phật giáo với thờ Mây, Mưa, Sấm, Chớp, phản ánh khát vọng mùa màng của cư dân lúa nước qua lễ hội vùng Dâu.
Người Việt không theo một tôn giáo riêng mà thực hành song song nhiều tín ngưỡng: thờ cúng tổ tiên, Thành hoàng, thờ Mẫu, Hùng Vương, lễ nông nghiệp.
Lễ hội Rước cộ Bà Chợ Được tại lăng Bà, xã Thăng An, Đà Nẵng diễn ra quanh ngày 11 tháng Giêng âm lịch, gồm nghi thức rước sắc Bà và rước các bàn cộ ban đêm.
64 quẻ Kinh Dịch cấu thành từ hai đơn quái chồng lên nhau, mỗi quẻ gồm 6 hào, mô tả 64 tình huống điển hình và gợi lời khuyên ứng xử theo sự biến dịch.
Lễ cúng cầu mưa của người Ê Đê ở Buôn Ma Thuột: nghi lễ nông nghiệp cổ xưa cầu thần Mưa, thần Nước ban mưa thuận gió hòa, do già làng chủ trì.
Phong tục thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam khác nhau theo vùng miền, dân tộc và môi trường sống, từ bàn thờ gian giữa đến Cửu huyền thất tổ nơi đình làng.
Người Hrê cư trú chủ yếu ở miền tây Quảng Ngãi và An Lão, Bình Định, nói tiếng nhóm Môn - Khơ Me, có hệ thống thờ cúng đa thần và lễ đâm trâu lớn nhất.
Gốm Bát Tràng có tên trong sử liệu từ thế kỷ 14, gắn với vùng đất xã Bát bên sông Hồng. Bài viết điểm lại mốc hình thành và các công đoạn làm gốm.
Lễ nhô dơng cầu mưa của người Cơ Ho Cil bên núi Lang Biang: nghi thức hiến sinh, khấn Yàng, xoang quanh cây nêu và nỗ lực gìn giữ bản sắc văn hóa Tây Nguyên.
Cải lương Nam Bộ hình thành đầu thế kỷ 20 từ đờn ca tài tử và lối ca ra bộ; bản Dạ cổ hoài lang của Cao Văn Lầu (1919) về sau thành bài vọng cổ.
Lễ kết bạn cổ truyền của người S'tiêng và M'nông ở Tây Nguyên gắn kết cá nhân, gia đình và cộng đồng qua trao lễ vật, uống rượu cần và lời thề nguyện.
Số bàn thờ và bát hương trong nhà không có con số cố định. Bài phân tích theo Gia lễ giản yếu và tư liệu dân tộc học, kèm cách bày biện từng trường hợp.
Chợ Tết ba miền là phiên chợ cuối năm mua sắm, gặp gỡ và cầu may. Bài phân tích chợ Tết Bắc, Trung, Nam bán gì và đi chợ Tết để làm gì.
Phong thủy được nhà nhân học xem là hệ biểu tượng đọc cảnh quan và công cụ tranh quyền trong dòng họ. Sang phương Tây, nó thành sản phẩm trang trí nội thất.
Số Thách Thức 0 trong thần số học tượng trưng cho tự do và tiềm năng vô hạn, mời gọi bạn lắng nghe trực giác và xác định rõ mục tiêu cuộc đời.
Sau khi UNESCO công nhận năm 2016, đồng thầy và bản hội vẫn giữ vai trò truyền dạy, tổ chức lề hầu đồng, từ giá đồng đến nghi thức múa lửa tẩy trần.
Lễ hội Tây Thiên từ 15 tới 17 tháng Hai âm lịch tại xã Đại Đình, tỉnh Phú Thọ, tưởng nhớ Quốc mẫu Lăng Thị Tiêu với lễ rước kiệu lên đền Thượng.
Vì sao Vũ Khúc và Tham Lang đồng cung ở Sửu, Mùi được sách Tử Vi xếp vào cách phát muộn sau tuổi ba mươi, và đâu là điều kiện để cách ấy chuyển tốt.
Liêm Trinh Tham Lang đồng cung ở Tỵ Hợi là cách cục được sách Tử Vi cổ xem là hiểm, nhưng chỗ giải thích lại khác nhau. Bài điểm lại các câu phú và cách hiểu.
Mười tám đời vua Hùng và nước Văn Lang được sử cũ chép thế nào, phần nào là truyền thuyết? Bài phân tích nguồn sử, mười lăm bộ và tín ngưỡng thờ Hùng Vương.
Chiêm tinh học phương Tây giải thích nguồn gốc 12 cung hoàng đạo từ chuyển động của Mặt Trời và vì sao chúng không còn trùng với chòm sao thực tế.
Khám phá ý nghĩa chiêm tinh của kỳ trăng bán nguyệt đầu tháng (First Quarter Moon): biểu tượng của hành động, thử thách và quyết định.
Khám phá ý nghĩa sâu sắc của Nhà 11 trong chiêm tinh học: tình bạn, mạng lưới xã hội, nhóm cộng đồng, hy vọng và ước nguyện.
Sao Kim chủ quản Thiên Bình, chi phối tình yêu, sự hài hòa và công bằng. Liên kết này lý giải bản chất lãng mạn, khéo giao tiếp của cung này.
Sơn hướng Cấn thuộc quẻ Cấn hành Thổ, cung Đông Bắc la bàn phong thủy, tượng trưng sự vững chãi, tĩnh lặng, dùng để chọn hướng nhà và luận vận khí.
Bánh chưng, bánh tét gắn với truyền thuyết Lang Liêu thời Hùng Vương, tượng trưng cho trời đất, lòng hiếu thảo và bản sắc văn hóa dân tộc trong ngày Tết.
Bộ bài Tarot 78 lá gồm 22 lá Major Arcana về hành trình cuộc đời và 56 lá Minor Arcana chia 4 bộ, kèm cách đọc bài cơ bản cho người mới.
Bàn thờ Thánh sư (Tiên sư, Nghệ sư) là nơi thờ ông tổ một nghề. Bài giải thích ba tên gọi, vị trí bàn thờ, đồ thờ, ngày cúng theo sách phong tục.
Số Thách Thức 2 trong thần số học chỉ ra bài học vượt qua nhạy cảm thái quá và nỗi sợ tổn thương, để biết lắng nghe trực giác và tin vào giá trị bản thân.
Cách đọc trải bài Tarot 3 lá Quá khứ, Hiện tại, Tương lai: ý nghĩa từng vị trí, cách diễn giải kết hợp và vài biến thể nâng cao cho người mới.
Cold reading khai thác ngôn ngữ cơ thể, câu nói nước đôi và hiệu ứng Barnum, biến lời phán chung chung thành cảm giác như đang nói trúng chuyện riêng của bạn.
Dân tộc Sán Chay gồm hai nhóm Cao Lan và Sán Chỉ, cư trú ở vùng Đông Bắc Việt Nam. Tìm hiểu tiếng nói, nhà sàn, tập tục thờ cúng và các lễ hội chính.
Khám phá ý nghĩa chuyên sâu của Nhà 1 (Nhà Bản Ngã) trong chiêm tinh học: biểu tượng của tính cách, ngoại hình, cách tiếp cận cuộc sống và sự khởi đầu.
Bàn Kỳ Môn đã lập đọc cát hung qua bốn nhóm cách cục: thập can khắc ứng, Tam trá và Cửu độn, các cách hung, cùng Phản ngâm và Phục ngâm.
Kinh Kim Cang và Tâm kinh là hai bản kinh Bát-nhã cốt lõi của Thiền tông. Bài phân tích nội dung chính, nguồn gốc và lý do Thiền tông đặc biệt coi trọng.
Kiêng kỵ dân gian khi động thổ, xây nhà, nhập trạch: chọn ngày, hướng, nghi lễ cúng bái theo quan niệm âm dương ngũ hành, giúp hiểu đúng và ứng dụng hợp lý.
Từng chỗ mà các nguồn lịch pháp, phong thuỷ và bói toán Việt Nam không thống nhất, kèm cách bộ dữ liệu này chọn, cách khác đang lưu hành, và hệ quả khi đối chiếu hai nguồn. Mọi bảng tra đều phải chọn một cách ở những chỗ ấy; phần lớn chọn rồi im lặng.
132 điều kiêng và lưu ý khi làm lễ cúng của người Việt Nam, thuộc 38 loại lễ, mỗi dòng một câu ba thứ tiếng kèm lễ, vùng, truyền thống, loại và địa chỉ trang nguồn. Chỉ lấy từ các dòng nghi thức đã soát; là mô tả tục theo nguồn, không phải điều bắt buộc.
155 loại lễ cúng của người Việt Nam chia 15 nhóm, từ gia tiên, giỗ chạp, Tết, tiết lễ trong năm tới tang ma, đình đền phủ và lễ của các dân tộc; mỗi lễ kèm tên khác, thời điểm, đối tượng cúng, mô tả ngắn, các trục phân loại (chu kỳ, không gian, đối tượng thờ, truyền thống, dân tộc, vùng văn hoá), ngày lễ có cấu trúc và đoạn phong tục có nguồn. Là bảng khoá của các bộ văn cúng và phong tục lễ cúng của Nhật Nguyệt.
407 dòng nghi thức cúng: mỗi dòng là cách làm một lễ ở một vùng theo một truyền thống, gồm thời điểm, nơi cúng, người cúng, lễ vật kèm mã danh mục, trình tự, điều kiêng và lưu ý, kèm địa chỉ các trang nguồn hay tên sách nguồn. Chỗ các nguồn nói khác nhau ghi ở cột ghi_chu.
456 bài văn khấn, văn tế, sớ và sám kệ đang được dùng, in và đăng ở Việt Nam, mỗi dòng một lời văn kèm loại lễ, phần lễ, vùng miền, truyền thống, họ lời văn, dị bản và các ô điền. Lời văn giữ nguyên tiếng Việt như nguồn; 348 bài ghi tên và địa chỉ trang nguồn, 108 bài là văn sưu tầm không nêu nguồn.