Hôm nay có gì đặc biệt
Xem con số thần số học của hôm nay, chung cho mọi người và riêng theo ngày sinh của anh chị.
Hầu hết tiện ích không cần tài khoản. Hồ sơ để lưu và đọc tiếp.
Chọn ngôn ngữ
Trang này chưa có đủ ba bản ngôn ngữ.
Tiểu Thử là tiết thứ 11, bắt đầu khi Mặt Trời tới 105 độ, mở đầu tháng Mùi. Đại Thử đứng thứ 12, bắt đầu khi Mặt Trời tới 120 độ, là trung khí giữa tháng Mùi. Theo sách Mệnh lý tham nguyên, giữa tháng Sáu nóng tới cực điểm nên gọi là đại, chưa tới mức ấy thì vẫn là tiểu.
Lấy từ bài “Tiết Tiểu Thử là gì, bắt đầu ngày nào và có tục lệ gì?”
Lập lá số Bát Tự từ ngày giờ sinh, có năm dòng đọc nhanh, đại vận và từng bước tính.
Xem con số thần số học của hôm nay, chung cho mọi người và riêng theo ngày sinh của anh chị.
Lập lá số Tử Vi từ ngày giờ sinh, có năm dòng đọc nhanh và lời giải từng cung.
Xem anh chị mang hành gì theo ngày sinh, theo năm sinh và theo thần số học, kèm cách tính.
Xem ngày âm lịch, can chi, giờ hoàng đạo và ngày lễ của hôm nay hay bất kỳ ngày nào.
Chọn việc muốn hỏi rồi gieo quẻ, xem việc ấy đang nghiêng về thuận hay nghịch.
Đại Thử là tiết khí thứ 12, trung khí tháng sáu âm lịch, bắt đầu khi Mặt Trời tới 120 độ hoàng kinh, ngày 22 hoặc 23 tháng 7. Kèm giờ giao tiết 2025 tới 2030.
Tiết Lập Thu là tiết khí thứ 13 trong 24 tiết, đánh dấu chuyển hạ sang thu. Bài giải thích cách tính ngày, ba hậu, gốc tích trong Tuế thời quảng ký và tục lệ.
Tiết Tiểu Thử thường bắt đầu ngày 7 tháng 7 dương lịch, mở đầu tháng Mùi. Giờ giao tiết 2025 tới 2030, nghĩa tên gọi và sách cổ chép gì về tiết này.
Tiết Đại Hàn là tiết khí cuối cùng trong 24 tiết, ứng với kinh độ Mặt Trời 300 độ và kéo dài khoảng 15 ngày. Bài giải thích cách tính, tục lệ và ý nghĩa.
Phong tục cưới hỏi của người Thái đen Sơn La gồm tục tự do tìm hiểu, ở rể thử thách 2-3 năm, lễ dạm hỏi, lễ búi tóc Tằng cẩu và lễ vật truyền thống.
Khám phá sao La Hầu trong Cửu Diệu: đặc điểm, ý nghĩa hung tinh, cách cúng giải hạn và góc nhìn khách quan từ quan niệm dân gian.
Minh đường là khoảng đất trước huyệt hay trước nhà, nơi sinh khí tụ lại. Cách chia tiểu, trung, đại và nội, ngoại minh đường theo sách loan đầu.
Tứ Hóa gồm Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Hóa Kỵ trong Tử Vi Đẩu Số, phản ánh bốn hướng hanh thông, quyền lực, danh tiếng và trắc trở khi luận giải lá số.
Quẻ Sơn Hỏa Bí (quẻ 22) trong Kinh Dịch nói về vẻ đẹp hình thức, sự trang sức và văn hóa bề ngoài, kèm ứng dụng trong cuộc sống, công việc, giao tiếp.
Đại Việt sử ký toàn thư mở đầu bằng kỷ Hồng Bàng, chép Kinh Dương Vương tên Lộc Tục, nước Xích Quỷ. Bài đối chiếu bản Hán văn với bản dịch và sử liệu đời sau.
Tấu Thư là phụ tinh chủ văn thư, giấy tờ và khéo nói trong tử vi. Bài phân tích vị trí, cách kết hợp với Thiên Lương, Xương Khúc và giới hạn của sao này.
Hà Đồ sắp số sinh thành theo phương và hành, Lạc Thư là ô vuông 3x3 tổng mọi hàng cột chéo đều bằng 15. Hai đồ nối vào bát quái, ngũ hành và cửu tinh.
Hà Đồ và Lạc Thư là hai hình đồ cổ phương Đông, nền tảng của phong thủy lý khí. Bài giải thích ma phương chín ô và cửu cung Hậu Thiên bát quái.
Tiết Đại Tuyết là tiết khí thứ 21, bắt đầu khi kinh độ mặt trời đạt 255 độ, thường ngày 7/12, mở đầu tháng Tý. Kèm giờ giao tiết 2025 tới 2030, giờ Việt Nam.
Táng thư kể năm loại núi không nên đặt huyệt: đồng sơn, đoạn sơn, thạch sơn, quá sơn, độc sơn. Bài phân tích lý do sách nêu và các trường hợp ngoại lệ.
Nạp âm Đại Khê Thủy của Giáp Dần và Ất Mão: đặc tính ngũ hành, quan hệ tương sinh tương khắc và ý nghĩa trong Tử vi, phong thủy cho người mệnh này.
Tìm hiểu nạp âm Đại Lâm Mộc, một trong 30 nạp âm của Lục Thập Hoa Giáp: đặc tính, ý nghĩa ngũ hành, màu sắc hợp và cách ứng dụng trong phong thủy.
Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư đời Minh, lời tựa ghi La Hồng Tiên soạn từ sách của Hi Di Trần Đoàn. Bài phân tích nguồn gốc, nội dung và giới hạn kiểm chứng.
Tìm hiểu nạp âm Đại Trạch Thổ trong Lục Thập Hoa Giáp: nguồn gốc, đặc tính ngũ hành, màu sắc, hướng hợp và ứng dụng trong đời sống người mệnh Thổ.
Tìm hiểu nạp âm Đại Hải Thủy, một trong 30 nạp âm của Lục Thập Hoa Giáp: đặc tính, ý nghĩa ngũ hành, màu sắc, hướng và ứng dụng trong đời sống.
Cửu cung là chín ô của Lạc Thư, bảng số 3x3 có tổng mỗi hàng, cột, đường chéo đều bằng 15. Bài nêu bảng số và cách Huyền Không, Kỳ Môn dùng chín ô ấy.
Mười hai trực Kiến Trừ Mãn Bình Định Chấp Phá Nguy Thành Thu Khai Bế là hệ thống chọn ngày theo tháng, gốc từ lịch cổ và sách Hiệp kỷ biện phương thư.
Chiếu dời đô 1010 khen Đại La ở trung tâm trời đất, thế rồng cuộn hổ ngồi, nhìn sông dựa núi. Bài phân tích từng ý trong Chiếu và cách hiểu theo loan đầu.
Lễ hội Cầu ngư ở Cửa Đại là dịp ngư dân tri ân thần Nam Hải, cầu mưa thuận gió hòa, mùa đánh bắt bội thu, với nghi thức trang nghiêm và phần hội đặc sắc.
Áo dài Việt Nam gắn với lịch sử từ thế kỷ XVII, qua cải cách y phục thời chúa Nguyễn và triều Nguyễn, thành biểu tượng văn hóa của người Việt.
Lục Nhâm là gì và Đại Lục Nhâm lập quẻ ra sao: an Thiên bàn bằng Nguyệt tướng gia lên giờ, dựng Tứ Khóa từ can chi ngày, phát Tam Truyền, an Thiên tướng.
Khóa thể Lục Nhâm gọi tên quẻ theo tương quan sinh khắc giữa tứ khóa và tam truyền. Bốn thể nền là Nguyên Thủ, Trùng Thẩm, Tri Nhất và Thiệp Hại.
Giỗ hết đại tường là lễ mãn tang sau hai năm để tang. Bài nêu lễ vật mâm cúng, cách bày biện và trình tự xả tang theo phong tục Việt Nam.
Cách đọc lá số Tử Vi theo thứ tự Mệnh, Thân, Cục, chính tinh, tam phương tứ chính, phụ tinh, đại hạn, tiểu hạn, theo các sách Tử Vi Việt Nam.
Táng Thư viết khí gặp gió thì tan, gặp nước thì dừng, nên gọi là phong thủy; được nước là trên hết, tàng phong đứng sau. Bài đối chiếu nguyên văn chữ Hán.
Tử vi cổ học là hệ thống Đẩu Số dùng 14 chính tinh và 12 cung để luận vận mệnh, còn tử vi hiện đại chỉ cách gọi dân gian về việc tra cứu vận hạn theo lá số.
Táng thư định nghĩa nghìn thước là thế, trăm thước là hình: thế là đà núi chạy xa, hình là khối đất kết gần huyệt. Thế tới hình dừng thì khí tụ.
Hiệp Kỷ Biện Phương Thư chép Nguyệt Kỵ ra sao và bác Dương Công kỵ nhật thế nào? Bài phân tích từ nguyên bản Hán văn, tách rõ tục thuyết và lệ cũ.
Khám phá lịch sử 1000 năm, kỹ thuật đúc đồng tinh xảo và sự phát triển hiện đại của làng nghề đúc đồng Đại Bái, Bắc Ninh - cái nôi nghề đồng vùng Bắc Bộ.
Ngày Khai đạo Cao Đài gắn với lễ Hạ Ngươn rằm tháng Mười âm lịch. Bài điểm lại nghi thức rước hương án, cúng Đại Đàn, múa Tứ Linh tại Tòa Thánh Tây Ninh.
Âm Nam, Dương Nam, Âm Nữ, Dương Nữ là cách phân loại theo Âm Dương của năm sinh, quyết định chiều đi thuận hay nghịch của Đại Hạn trong Tử Vi.
Tầm long là truy ngược dãy núi từ tổ sơn xa xôi về chỗ kết huyệt, theo trình tự thái tổ, thiếu tổ, phụ mẫu tới huyệt, qua quá hiệp và thúc yết.
Nghề đúc đồng thờ cúng ở Lộng Thượng, Ý Yên, Đại Bái: tinh hoa luyện kim trăm năm, quy trình chế tác cầu kỳ và nỗ lực giữ lửa nghề thời hiện đại.
Khám phá phong tục ăn Tết sớm độc đáo của người Si La ở Lai Châu: thời điểm tổ chức theo mùa vụ, nghi lễ mổ lợn, cúng tổ tiên và những nét văn hóa đặc sắc.
Thiên La, Địa Võng theo Tử Vi Việt Nam: hai sao cố định ở cung Thìn và Tuất, vì sao gọi là La Võng, và điều kiện có Đà La theo Thiên Lương.
Nguyệt phá trong Lục Hào là hào bị chi tháng xung, thường lấy làm điềm suy bại. Bài phân tích khi nào phá mà không phá theo Tăng san bốc dịch và các phái.
Bát Tự (Tứ Trụ) là hệ thống luận mệnh truyền thống dựa trên 4 trụ Năm Tháng Ngày Giờ, tổng cộng 8 chữ Can Chi, dùng phân tích Ngũ hành và vận mệnh.
Diễn viên điện ảnh, diễn viên hài, nhà sản xuất phim
Giáo sư, Viện sĩ, Thiếu tướng, Anh hùng Lao động, nhà khoa học quân sự, người đặt nền móng ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam
Sáu mươi quẻ luân phiên trị ngày theo phép Quái khí, theo thứ tự từ Trung Phu lúc Đông chí, kèm tháng khí, vai công, tích, hầu, đại phu, khanh và lúc mỗi quẻ vào trị tính từ Đông chí. Là bảng tra của bộ que-ngay-quai-khi-1900-2100.
Mười Thiên Can kèm ngũ hành và âm dương của từng can.
Quan hệ giữa mọi cặp trong 12 địa chi, đủ 144 dòng, xuất dạng dài nên mỗi cặp một dòng.
Mười hai Địa Chi kèm con giáp, ngũ hành và khung giờ hai tiếng tương ứng.
Mười hai trực theo thứ tự vòng, kèm nghĩa và các việc nên làm hay nên tránh trong ngày mang trực đó.
Hầu hết tiện ích không cần tài khoản. Hồ sơ để lưu và đọc tiếp.
Chọn ngôn ngữ
Trang này chưa có đủ ba bản ngôn ngữ.