Phật giáo Việt Nam gần hai mươi thế kỷ: từ trung tâm Luy Lâu, hoà vào tín ngưỡng bản địa, hưng thịnh thời Lý Trần, đến phong trào chấn hưng đầu thế kỷ 20.
Phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam từ thập niên 1920 lập ba hội ba miền, bài trừ hủ tục và canh tân Phật học qua sách Trần Trọng Kim, Phan Văn Hùm.
Luy Lâu được xem là một nơi Phật giáo vào Giao Châu sớm nhất, gắn với chùa Dâu, Tứ Pháp và Lý hoặc luận của Mâu Tử, một tư liệu Hán văn sớm về đạo Phật.
Ngũ giới là năm điều răn căn bản của người Phật tử tại gia: không sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu, được nói trong kinh Pali và kinh Pháp Cú.
Ba dòng thiền thời Lý gồm Tì Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường. Bài phân tích nguồn gốc, truyền thừa và cách giới nghiên cứu đọc lại các dòng này.
Đại lễ tưởng niệm Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập Niết bàn diễn ra tại Cung Trúc Lâm, Yên Tử và chùa Ngọa Vân, gồm dâng hương, cúng Phật, cúng Tổ, nhiễu tháp.
Tín ngưỡng dân gian như cúng sao giải hạn không phải tuyên bố khoa học, cũng không thuộc giáo lý đạo Phật, nhưng vẫn là di sản văn hoá cần đọc đúng vai trò.
Tìm hiểu nguồn gốc Đại lễ Phật Đản (Vesak), sự khác biệt giữa Nam tông và Bắc tông, ý nghĩa tâm linh và nghi thức tắm Phật trong văn hóa Phật giáo Việt Nam.
Khám phá lễ hội Quán Thế Âm Ngũ Hành Sơn: nguồn gốc từ pho tượng thạch nhũ thiên tạo, các nghi lễ đặc sắc và giá trị di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Tìm hiểu nguồn gốc, ý nghĩa văn hóa của tục dâng sao giải hạn đầu năm, cùng góc nhìn phân tích từ giáo lý Phật giáo để có cái nhìn khách quan, cân bằng.
Lễ mở cửa mả (khai mộ) cử hành khoảng ba ngày sau an táng ở Nam Bộ: lễ vật, ý nghĩa dân gian của gà con, thang tre, mía lau và cách nhìn của Phật giáo.
Nghi lễ cúng Tết miền Nam gồm rước ông bà ngày 30, cúng giao thừa ngoài trời và trong nhà, Tết nhà mùng Ba, tiễn ông bà mùng Bốn, kèm mâm cúng từng lễ.
Dân tộc Kinh (Việt) chiếm hơn 86% dân số, nói tiếng Việt thuộc nhóm Việt Mường. Tìm hiểu nơi cư trú, làng xã, tục thờ cúng tổ tiên và các lễ tết chính.
Giáng sinh ở Việt Nam gồm lễ vọng đêm 24/12 và lễ chính ngày 25/12, gắn với hang đá, cây thông, và đã trở thành dịp chung của cả người không theo Công giáo.
Đại Việt sử ký toàn thư mở đầu bằng kỷ Hồng Bàng, chép Kinh Dương Vương tên Lộc Tục, nước Xích Quỷ. Bài đối chiếu bản Hán văn với bản dịch và sử liệu đời sau.
Tổng quan các ngày lễ Tết Việt Nam trong năm: Tết Nguyên Đán, Rằm tháng Giêng, Thanh Minh, Đoan Ngọ, Trung Thu, Tết của các dân tộc và các dịp cúng lễ khác.
Cúng giao thừa miền Nam và miền Bắc khác nhau ở bàn Thiên ngoài trời, mâm trong nhà và lễ vật. Bài phân tích chi tiết nguồn gốc, ý nghĩa và cách sắm lễ.
Tín ngưỡng dân gian Việt Nam gồm thờ cúng tổ tiên, thần linh, Đạo Mẫu, tín ngưỡng nông nghiệp và các nghi lễ của nhiều dân tộc. Tổng quan các nhánh chính.
Tín ngưỡng phồn thực cầu mong sinh sôi, mùa màng tốt tươi, gắn với văn minh lúa nước Việt cổ, thể hiện qua Linga–Yoni, lễ Trò Trám, tượng nhà mồ Tây Nguyên.
Khăn đóng và áo the là trang phục trang trọng của nam giới Việt Nam xưa, thể hiện sự nho nhã, lễ độ và nay được phục dựng trong lễ, Tết, đám cưới, đám giỗ.
Khám phá sao Thiên Việt, một trong Lục Cát Tinh của Tử Vi Đẩu Số: nguồn gốc, vị trí an sao, ý nghĩa ở các cung, và ảnh hưởng khi kết hợp với các sao khác.
132 điều kiêng và lưu ý khi làm lễ cúng của người Việt Nam, thuộc 38 loại lễ, mỗi dòng một câu ba thứ tiếng kèm lễ, vùng, truyền thống, loại và địa chỉ trang nguồn. Chỉ lấy từ các dòng nghi thức đã soát; là mô tả tục theo nguồn, không phải điều bắt buộc.
407 dòng nghi thức cúng: mỗi dòng là cách làm một lễ ở một vùng theo một truyền thống, gồm thời điểm, nơi cúng, người cúng, lễ vật kèm mã danh mục, trình tự, điều kiêng và lưu ý, kèm địa chỉ các trang nguồn hay tên sách nguồn. Chỗ các nguồn nói khác nhau ghi ở cột ghi_chu.
456 bài văn khấn, văn tế, sớ và sám kệ đang được dùng, in và đăng ở Việt Nam, mỗi dòng một lời văn kèm loại lễ, phần lễ, vùng miền, truyền thống, họ lời văn, dị bản và các ô điền. Lời văn giữ nguyên tiếng Việt như nguồn; 348 bài ghi tên và địa chỉ trang nguồn, 108 bài là văn sưu tầm không nêu nguồn.