Tra tuổi theo năm sinh
1940 là tuổi gì?
Người sinh năm 1940 tuổi Canh Thìn (con Rồng), nạp âm Bạch Lạp Kim. Năm Canh Thìn bắt đầu từ Tết 08/02/1940 và kết thúc 26/01/1941.
Lịch pháp và thiên văn Can chi, nạp âm, ngày Tết và tuổi là phép tính; cung phi và tuổi hợp là quy ước thuật số.
| Can chi | Canh Thìn |
|---|---|
| Con giáp | Rồng (Thìn) |
| Nạp âm | Bạch Lạp Kim, hành Kim |
| Năm âm lịch, tính theo dương lịch | 08/02/1940 - 26/01/1941 |
| Cung phi nam | Càn, Tây tứ mệnh |
| Cung phi nữ | Ly, Đông tứ mệnh |
| Tuổi năm 2026 | 86 tuổi, tuổi mụ 87 |
Sinh tháng 1, tháng 2 năm 1940 thì tuổi gì?
Tuổi tính theo năm âm lịch, đổi vào ngày Tết chứ không vào ngày 1 tháng 1. Người sinh từ 01/01/1940 tới 07/02/1940 vẫn thuộc năm Kỷ Mão (1939); người sinh từ 01/01/1941 tới 26/01/1941 vẫn thuộc năm Canh Thìn. Đổi ngày sinh sang âm lịch.
Năm 2026 người sinh năm 1940 bao nhiêu tuổi?
Người sinh năm dương lịch 1940 tròn 86 tuổi khi qua sinh nhật năm 2026. Tuổi mụ của tuổi Canh Thìn năm 2026 là 87: tuổi mụ tính một tuổi lúc sinh và thêm một tuổi mỗi lần qua Tết.
Cung phi của người sinh năm 1940 là gì?
Theo Bát Trạch, nam sinh năm Canh Thìn cung Càn (Tây tứ mệnh), nữ cung Ly (Đông tứ mệnh). Cung phi tính từ năm âm lịch và giới tính, dùng để chọn hướng nhà. Xem tám hướng theo cung phi.
Tuổi Canh Thìn 1940 hợp tuổi nào, kỵ tuổi nào?
Theo bảng dân gian, tuổi Thìn tam hợp Thân, Tý, lục hợp Dậu; xung Tuất, hại Mão.
| Quan hệ | Hợp hay kỵ | Tuổi | Năm sinh |
|---|---|---|---|
| Tam Hợp | Hợp | Thân | 1944, 1956, 1968, 1980, 1992, 2004, 2016 |
| Tam Hợp | Hợp | Tý | 1948, 1960, 1972, 1984, 1996, 2008, 2020 |
| Lục Hợp | Hợp | Dậu | 1945, 1957, 1969, 1981, 1993, 2005, 2017 |
| Tứ Hành Xung (xung trực diện) | Kỵ | Tuất | 1946, 1958, 1970, 1982, 1994, 2006, 2018 |
| Tứ Hành Xung | Kỵ | Sửu | 1949, 1961, 1973, 1985, 1997, 2009, 2021 |
| Tứ Hành Xung | Kỵ | Mùi | 1943, 1955, 1967, 1979, 1991, 2003, 2015 |
| Lục Hại | Kỵ | Mão | 1951, 1963, 1975, 1987, 1999, 2011, 2023 |
Bảng Tam Hợp / Tứ Hành Xung / Lục Hại là quy ước dân gian phổ biến, không phải phép tính duy nhất. Một số trường phái còn xét thêm Thiên Can và ngũ hành nạp âm trước khi kết luận hợp hay khắc.