Tra tuổi theo năm sinh
1982 là tuổi gì?
Người sinh năm 1982 tuổi Nhâm Tuất (con Chó), nạp âm Đại Hải Thủy. Năm Nhâm Tuất bắt đầu từ Tết 25/01/1982 và kết thúc 12/02/1983.
Lịch pháp và thiên văn Can chi, nạp âm, ngày Tết và tuổi là phép tính; cung phi và tuổi hợp là quy ước thuật số.
| Can chi | Nhâm Tuất |
|---|---|
| Con giáp | Chó (Tuất) |
| Nạp âm | Đại Hải Thủy, hành Thủy |
| Năm âm lịch, tính theo dương lịch | 25/01/1982 - 12/02/1983 |
| Cung phi nam | Ly, Đông tứ mệnh |
| Cung phi nữ | Càn, Tây tứ mệnh |
| Tuổi năm 2026 | 44 tuổi, tuổi mụ 45 |
Sinh tháng 1, tháng 2 năm 1982 thì tuổi gì?
Tuổi tính theo năm âm lịch, đổi vào ngày Tết chứ không vào ngày 1 tháng 1. Người sinh từ 01/01/1982 tới 24/01/1982 vẫn thuộc năm Tân Dậu (1981); người sinh từ 01/01/1983 tới 12/02/1983 vẫn thuộc năm Nhâm Tuất. Đổi ngày sinh sang âm lịch.
Năm 2026 người sinh năm 1982 bao nhiêu tuổi?
Người sinh năm dương lịch 1982 tròn 44 tuổi khi qua sinh nhật năm 2026. Tuổi mụ của tuổi Nhâm Tuất năm 2026 là 45: tuổi mụ tính một tuổi lúc sinh và thêm một tuổi mỗi lần qua Tết.
Cung phi của người sinh năm 1982 là gì?
Theo Bát Trạch, nam sinh năm Nhâm Tuất cung Ly (Đông tứ mệnh), nữ cung Càn (Tây tứ mệnh). Cung phi tính từ năm âm lịch và giới tính, dùng để chọn hướng nhà. Xem tám hướng theo cung phi.
Tuổi Nhâm Tuất 1982 hợp tuổi nào, kỵ tuổi nào?
Theo bảng dân gian, tuổi Tuất tam hợp Dần, Ngọ, lục hợp Mão; xung Thìn, hại Dậu.
| Quan hệ | Hợp hay kỵ | Tuổi | Năm sinh |
|---|---|---|---|
| Tam Hợp | Hợp | Dần | 1950, 1962, 1974, 1986, 1998, 2010, 2022 |
| Tam Hợp | Hợp | Ngọ | 1942, 1954, 1966, 1978, 1990, 2002, 2014, 2026 |
| Lục Hợp | Hợp | Mão | 1951, 1963, 1975, 1987, 1999, 2011, 2023 |
| Tứ Hành Xung (xung trực diện) | Kỵ | Thìn | 1940, 1952, 1964, 1976, 1988, 2000, 2012, 2024 |
| Tứ Hành Xung | Kỵ | Sửu | 1949, 1961, 1973, 1985, 1997, 2009, 2021 |
| Tứ Hành Xung | Kỵ | Mùi | 1943, 1955, 1967, 1979, 1991, 2003, 2015 |
| Lục Hại | Kỵ | Dậu | 1945, 1957, 1969, 1981, 1993, 2005, 2017 |
Bảng Tam Hợp / Tứ Hành Xung / Lục Hại là quy ước dân gian phổ biến, không phải phép tính duy nhất. Một số trường phái còn xét thêm Thiên Can và ngũ hành nạp âm trước khi kết luận hợp hay khắc.