Tra tuổi theo năm sinh
2005 là tuổi gì?
Người sinh năm 2005 tuổi Ất Dậu (con Gà), nạp âm Tuyền Trung Thủy. Năm Ất Dậu bắt đầu từ Tết 09/02/2005 và kết thúc 28/01/2006.
Lịch pháp và thiên văn Can chi, nạp âm, ngày Tết và tuổi là phép tính; cung phi và tuổi hợp là quy ước thuật số.
| Can chi | Ất Dậu |
|---|---|
| Con giáp | Gà (Dậu) |
| Nạp âm | Tuyền Trung Thủy, hành Thủy |
| Năm âm lịch, tính theo dương lịch | 09/02/2005 - 28/01/2006 |
| Cung phi nam | Tốn, Đông tứ mệnh |
| Cung phi nữ | Khôn, Tây tứ mệnh |
| Tuổi năm 2026 | 21 tuổi, tuổi mụ 22 |
Sinh tháng 1, tháng 2 năm 2005 thì tuổi gì?
Tuổi tính theo năm âm lịch, đổi vào ngày Tết chứ không vào ngày 1 tháng 1. Người sinh từ 01/01/2005 tới 08/02/2005 vẫn thuộc năm Giáp Thân (2004); người sinh từ 01/01/2006 tới 28/01/2006 vẫn thuộc năm Ất Dậu. Đổi ngày sinh sang âm lịch.
Năm 2026 người sinh năm 2005 bao nhiêu tuổi?
Người sinh năm dương lịch 2005 tròn 21 tuổi khi qua sinh nhật năm 2026. Tuổi mụ của tuổi Ất Dậu năm 2026 là 22: tuổi mụ tính một tuổi lúc sinh và thêm một tuổi mỗi lần qua Tết.
Cung phi của người sinh năm 2005 là gì?
Theo Bát Trạch, nam sinh năm Ất Dậu cung Tốn (Đông tứ mệnh), nữ cung Khôn (Tây tứ mệnh). Cung phi tính từ năm âm lịch và giới tính, dùng để chọn hướng nhà. Xem tám hướng theo cung phi.
Tuổi Ất Dậu 2005 hợp tuổi nào, kỵ tuổi nào?
Theo bảng dân gian, tuổi Dậu tam hợp Tỵ, Sửu, lục hợp Thìn; xung Mão, hại Tuất.
| Quan hệ | Hợp hay kỵ | Tuổi | Năm sinh |
|---|---|---|---|
| Tam Hợp | Hợp | Tỵ | 1941, 1953, 1965, 1977, 1989, 2001, 2013, 2025 |
| Tam Hợp | Hợp | Sửu | 1949, 1961, 1973, 1985, 1997, 2009, 2021 |
| Lục Hợp | Hợp | Thìn | 1940, 1952, 1964, 1976, 1988, 2000, 2012, 2024 |
| Tứ Hành Xung | Kỵ | Tý | 1948, 1960, 1972, 1984, 1996, 2008, 2020 |
| Tứ Hành Xung | Kỵ | Ngọ | 1942, 1954, 1966, 1978, 1990, 2002, 2014, 2026 |
| Tứ Hành Xung (xung trực diện) | Kỵ | Mão | 1951, 1963, 1975, 1987, 1999, 2011, 2023 |
| Lục Hại | Kỵ | Tuất | 1946, 1958, 1970, 1982, 1994, 2006, 2018 |
Bảng Tam Hợp / Tứ Hành Xung / Lục Hại là quy ước dân gian phổ biến, không phải phép tính duy nhất. Một số trường phái còn xét thêm Thiên Can và ngũ hành nạp âm trước khi kết luận hợp hay khắc.