Tra tuổi theo năm sinh
1946 là tuổi gì?
Người sinh năm 1946 tuổi Bính Tuất (con Chó), nạp âm Ốc Thượng Thổ. Năm Bính Tuất bắt đầu từ Tết 02/02/1946 và kết thúc 21/01/1947.
Lịch pháp và thiên văn Can chi, nạp âm, ngày Tết và tuổi là phép tính; cung phi và tuổi hợp là quy ước thuật số.
| Can chi | Bính Tuất |
|---|---|
| Con giáp | Chó (Tuất) |
| Nạp âm | Ốc Thượng Thổ, hành Thổ |
| Năm âm lịch, tính theo dương lịch | 02/02/1946 - 21/01/1947 |
| Cung phi nam | Ly, Đông tứ mệnh |
| Cung phi nữ | Càn, Tây tứ mệnh |
| Tuổi năm 2026 | 80 tuổi, tuổi mụ 81 |
Sinh tháng 1, tháng 2 năm 1946 thì tuổi gì?
Tuổi tính theo năm âm lịch, đổi vào ngày Tết chứ không vào ngày 1 tháng 1. Người sinh từ 01/01/1946 tới 01/02/1946 vẫn thuộc năm Ất Dậu (1945); người sinh từ 01/01/1947 tới 21/01/1947 vẫn thuộc năm Bính Tuất. Đổi ngày sinh sang âm lịch.
Năm 2026 người sinh năm 1946 bao nhiêu tuổi?
Người sinh năm dương lịch 1946 tròn 80 tuổi khi qua sinh nhật năm 2026. Tuổi mụ của tuổi Bính Tuất năm 2026 là 81: tuổi mụ tính một tuổi lúc sinh và thêm một tuổi mỗi lần qua Tết.
Cung phi của người sinh năm 1946 là gì?
Theo Bát Trạch, nam sinh năm Bính Tuất cung Ly (Đông tứ mệnh), nữ cung Càn (Tây tứ mệnh). Cung phi tính từ năm âm lịch và giới tính, dùng để chọn hướng nhà. Xem tám hướng theo cung phi.
Tuổi Bính Tuất 1946 hợp tuổi nào, kỵ tuổi nào?
Theo bảng dân gian, tuổi Tuất tam hợp Dần, Ngọ, lục hợp Mão; xung Thìn, hại Dậu.
| Quan hệ | Hợp hay kỵ | Tuổi | Năm sinh |
|---|---|---|---|
| Tam Hợp | Hợp | Dần | 1950, 1962, 1974, 1986, 1998, 2010, 2022 |
| Tam Hợp | Hợp | Ngọ | 1942, 1954, 1966, 1978, 1990, 2002, 2014, 2026 |
| Lục Hợp | Hợp | Mão | 1951, 1963, 1975, 1987, 1999, 2011, 2023 |
| Tứ Hành Xung (xung trực diện) | Kỵ | Thìn | 1940, 1952, 1964, 1976, 1988, 2000, 2012, 2024 |
| Tứ Hành Xung | Kỵ | Sửu | 1949, 1961, 1973, 1985, 1997, 2009, 2021 |
| Tứ Hành Xung | Kỵ | Mùi | 1943, 1955, 1967, 1979, 1991, 2003, 2015 |
| Lục Hại | Kỵ | Dậu | 1945, 1957, 1969, 1981, 1993, 2005, 2017 |
Bảng Tam Hợp / Tứ Hành Xung / Lục Hại là quy ước dân gian phổ biến, không phải phép tính duy nhất. Một số trường phái còn xét thêm Thiên Can và ngũ hành nạp âm trước khi kết luận hợp hay khắc.