Tra tuổi theo năm sinh
1972 là tuổi gì?
Người sinh năm 1972 tuổi Nhâm Tý (con Chuột), nạp âm Tang Đố Mộc. Năm Nhâm Tý bắt đầu từ Tết 15/02/1972 và kết thúc 02/02/1973.
Lịch pháp và thiên văn Can chi, nạp âm, ngày Tết và tuổi là phép tính; cung phi và tuổi hợp là quy ước thuật số.
| Can chi | Nhâm Tý |
|---|---|
| Con giáp | Chuột (Tý) |
| Nạp âm | Tang Đố Mộc, hành Mộc |
| Năm âm lịch, tính theo dương lịch | 15/02/1972 - 02/02/1973 |
| Cung phi nam | Khảm, Đông tứ mệnh |
| Cung phi nữ | Cấn, Tây tứ mệnh |
| Tuổi năm 2026 | 54 tuổi, tuổi mụ 55 |
Sinh tháng 1, tháng 2 năm 1972 thì tuổi gì?
Tuổi tính theo năm âm lịch, đổi vào ngày Tết chứ không vào ngày 1 tháng 1. Người sinh từ 01/01/1972 tới 14/02/1972 vẫn thuộc năm Tân Hợi (1971); người sinh từ 01/01/1973 tới 02/02/1973 vẫn thuộc năm Nhâm Tý. Đổi ngày sinh sang âm lịch.
Năm 2026 người sinh năm 1972 bao nhiêu tuổi?
Người sinh năm dương lịch 1972 tròn 54 tuổi khi qua sinh nhật năm 2026. Tuổi mụ của tuổi Nhâm Tý năm 2026 là 55: tuổi mụ tính một tuổi lúc sinh và thêm một tuổi mỗi lần qua Tết.
Cung phi của người sinh năm 1972 là gì?
Theo Bát Trạch, nam sinh năm Nhâm Tý cung Khảm (Đông tứ mệnh), nữ cung Cấn (Tây tứ mệnh). Cung phi tính từ năm âm lịch và giới tính, dùng để chọn hướng nhà. Xem tám hướng theo cung phi.
Tuổi Nhâm Tý 1972 hợp tuổi nào, kỵ tuổi nào?
Theo bảng dân gian, tuổi Tý tam hợp Thân, Thìn, lục hợp Sửu; xung Ngọ, hại Mùi.
| Quan hệ | Hợp hay kỵ | Tuổi | Năm sinh |
|---|---|---|---|
| Tam Hợp | Hợp | Thân | 1944, 1956, 1968, 1980, 1992, 2004, 2016 |
| Tam Hợp | Hợp | Thìn | 1940, 1952, 1964, 1976, 1988, 2000, 2012, 2024 |
| Lục Hợp | Hợp | Sửu | 1949, 1961, 1973, 1985, 1997, 2009, 2021 |
| Tứ Hành Xung (xung trực diện) | Kỵ | Ngọ | 1942, 1954, 1966, 1978, 1990, 2002, 2014, 2026 |
| Tứ Hành Xung | Kỵ | Mão | 1951, 1963, 1975, 1987, 1999, 2011, 2023 |
| Tứ Hành Xung | Kỵ | Dậu | 1945, 1957, 1969, 1981, 1993, 2005, 2017 |
| Lục Hại | Kỵ | Mùi | 1943, 1955, 1967, 1979, 1991, 2003, 2015 |
Bảng Tam Hợp / Tứ Hành Xung / Lục Hại là quy ước dân gian phổ biến, không phải phép tính duy nhất. Một số trường phái còn xét thêm Thiên Can và ngũ hành nạp âm trước khi kết luận hợp hay khắc.