Tra tuổi theo năm sinh
2011 là tuổi gì?
Người sinh năm 2011 tuổi Tân Mão (con Mèo), nạp âm Tùng Bách Mộc. Năm Tân Mão bắt đầu từ Tết 03/02/2011 và kết thúc 22/01/2012.
Lịch pháp và thiên văn Can chi, nạp âm, ngày Tết và tuổi là phép tính; cung phi và tuổi hợp là quy ước thuật số.
| Can chi | Tân Mão |
|---|---|
| Con giáp | Mèo (Mão) |
| Nạp âm | Tùng Bách Mộc, hành Mộc |
| Năm âm lịch, tính theo dương lịch | 03/02/2011 - 22/01/2012 |
| Cung phi nam | Đoài, Tây tứ mệnh |
| Cung phi nữ | Cấn, Tây tứ mệnh |
| Tuổi năm 2026 | 15 tuổi, tuổi mụ 16 |
Sinh tháng 1, tháng 2 năm 2011 thì tuổi gì?
Tuổi tính theo năm âm lịch, đổi vào ngày Tết chứ không vào ngày 1 tháng 1. Người sinh từ 01/01/2011 tới 02/02/2011 vẫn thuộc năm Canh Dần (2010); người sinh từ 01/01/2012 tới 22/01/2012 vẫn thuộc năm Tân Mão. Đổi ngày sinh sang âm lịch.
Năm 2026 người sinh năm 2011 bao nhiêu tuổi?
Người sinh năm dương lịch 2011 tròn 15 tuổi khi qua sinh nhật năm 2026. Tuổi mụ của tuổi Tân Mão năm 2026 là 16: tuổi mụ tính một tuổi lúc sinh và thêm một tuổi mỗi lần qua Tết.
Cung phi của người sinh năm 2011 là gì?
Theo Bát Trạch, nam sinh năm Tân Mão cung Đoài (Tây tứ mệnh), nữ cung Cấn (Tây tứ mệnh). Cung phi tính từ năm âm lịch và giới tính, dùng để chọn hướng nhà. Xem tám hướng theo cung phi.
Tuổi Tân Mão 2011 hợp tuổi nào, kỵ tuổi nào?
Theo bảng dân gian, tuổi Mão tam hợp Hợi, Mùi, lục hợp Tuất; xung Dậu, hại Thìn.
| Quan hệ | Hợp hay kỵ | Tuổi | Năm sinh |
|---|---|---|---|
| Tam Hợp | Hợp | Hợi | 1947, 1959, 1971, 1983, 1995, 2007, 2019 |
| Tam Hợp | Hợp | Mùi | 1943, 1955, 1967, 1979, 1991, 2003, 2015 |
| Lục Hợp | Hợp | Tuất | 1946, 1958, 1970, 1982, 1994, 2006, 2018 |
| Tứ Hành Xung | Kỵ | Tý | 1948, 1960, 1972, 1984, 1996, 2008, 2020 |
| Tứ Hành Xung | Kỵ | Ngọ | 1942, 1954, 1966, 1978, 1990, 2002, 2014, 2026 |
| Tứ Hành Xung (xung trực diện) | Kỵ | Dậu | 1945, 1957, 1969, 1981, 1993, 2005, 2017 |
| Lục Hại | Kỵ | Thìn | 1940, 1952, 1964, 1976, 1988, 2000, 2012, 2024 |
Bảng Tam Hợp / Tứ Hành Xung / Lục Hại là quy ước dân gian phổ biến, không phải phép tính duy nhất. Một số trường phái còn xét thêm Thiên Can và ngũ hành nạp âm trước khi kết luận hợp hay khắc.