Tra tuổi theo năm sinh
2003 là tuổi gì?
Người sinh năm 2003 tuổi Quý Mùi (con Dê), nạp âm Dương Liễu Mộc. Năm Quý Mùi bắt đầu từ Tết 01/02/2003 và kết thúc 21/01/2004.
Lịch pháp và thiên văn Can chi, nạp âm, ngày Tết và tuổi là phép tính; cung phi và tuổi hợp là quy ước thuật số.
| Can chi | Quý Mùi |
|---|---|
| Con giáp | Dê (Mùi) |
| Nạp âm | Dương Liễu Mộc, hành Mộc |
| Năm âm lịch, tính theo dương lịch | 01/02/2003 - 21/01/2004 |
| Cung phi nam | Càn, Tây tứ mệnh |
| Cung phi nữ | Ly, Đông tứ mệnh |
| Tuổi năm 2026 | 23 tuổi, tuổi mụ 24 |
Sinh tháng 1, tháng 2 năm 2003 thì tuổi gì?
Tuổi tính theo năm âm lịch, đổi vào ngày Tết chứ không vào ngày 1 tháng 1. Người sinh từ 01/01/2003 tới 31/01/2003 vẫn thuộc năm Nhâm Ngọ (2002); người sinh từ 01/01/2004 tới 21/01/2004 vẫn thuộc năm Quý Mùi. Đổi ngày sinh sang âm lịch.
Năm 2026 người sinh năm 2003 bao nhiêu tuổi?
Người sinh năm dương lịch 2003 tròn 23 tuổi khi qua sinh nhật năm 2026. Tuổi mụ của tuổi Quý Mùi năm 2026 là 24: tuổi mụ tính một tuổi lúc sinh và thêm một tuổi mỗi lần qua Tết.
Cung phi của người sinh năm 2003 là gì?
Theo Bát Trạch, nam sinh năm Quý Mùi cung Càn (Tây tứ mệnh), nữ cung Ly (Đông tứ mệnh). Cung phi tính từ năm âm lịch và giới tính, dùng để chọn hướng nhà. Xem tám hướng theo cung phi.
Tuổi Quý Mùi 2003 hợp tuổi nào, kỵ tuổi nào?
Theo bảng dân gian, tuổi Mùi tam hợp Hợi, Mão, lục hợp Ngọ; xung Sửu, hại Tý.
| Quan hệ | Hợp hay kỵ | Tuổi | Năm sinh |
|---|---|---|---|
| Tam Hợp | Hợp | Hợi | 1947, 1959, 1971, 1983, 1995, 2007, 2019 |
| Tam Hợp | Hợp | Mão | 1951, 1963, 1975, 1987, 1999, 2011, 2023 |
| Lục Hợp | Hợp | Ngọ | 1942, 1954, 1966, 1978, 1990, 2002, 2014, 2026 |
| Tứ Hành Xung | Kỵ | Thìn | 1940, 1952, 1964, 1976, 1988, 2000, 2012, 2024 |
| Tứ Hành Xung | Kỵ | Tuất | 1946, 1958, 1970, 1982, 1994, 2006, 2018 |
| Tứ Hành Xung (xung trực diện) | Kỵ | Sửu | 1949, 1961, 1973, 1985, 1997, 2009, 2021 |
| Lục Hại | Kỵ | Tý | 1948, 1960, 1972, 1984, 1996, 2008, 2020 |
Bảng Tam Hợp / Tứ Hành Xung / Lục Hại là quy ước dân gian phổ biến, không phải phép tính duy nhất. Một số trường phái còn xét thêm Thiên Can và ngũ hành nạp âm trước khi kết luận hợp hay khắc.