Tra tuổi theo năm sinh
2018 là tuổi gì?
Người sinh năm 2018 tuổi Mậu Tuất (con Chó), nạp âm Bình Địa Mộc. Năm Mậu Tuất bắt đầu từ Tết 16/02/2018 và kết thúc 04/02/2019.
Lịch pháp và thiên văn Can chi, nạp âm, ngày Tết và tuổi là phép tính; cung phi và tuổi hợp là quy ước thuật số.
| Can chi | Mậu Tuất |
|---|---|
| Con giáp | Chó (Tuất) |
| Nạp âm | Bình Địa Mộc, hành Mộc |
| Năm âm lịch, tính theo dương lịch | 16/02/2018 - 04/02/2019 |
| Cung phi nam | Ly, Đông tứ mệnh |
| Cung phi nữ | Càn, Tây tứ mệnh |
| Tuổi năm 2026 | 8 tuổi, tuổi mụ 9 |
Sinh tháng 1, tháng 2 năm 2018 thì tuổi gì?
Tuổi tính theo năm âm lịch, đổi vào ngày Tết chứ không vào ngày 1 tháng 1. Người sinh từ 01/01/2018 tới 15/02/2018 vẫn thuộc năm Đinh Dậu (2017); người sinh từ 01/01/2019 tới 04/02/2019 vẫn thuộc năm Mậu Tuất. Đổi ngày sinh sang âm lịch.
Năm 2026 người sinh năm 2018 bao nhiêu tuổi?
Người sinh năm dương lịch 2018 tròn 8 tuổi khi qua sinh nhật năm 2026. Tuổi mụ của tuổi Mậu Tuất năm 2026 là 9: tuổi mụ tính một tuổi lúc sinh và thêm một tuổi mỗi lần qua Tết.
Cung phi của người sinh năm 2018 là gì?
Theo Bát Trạch, nam sinh năm Mậu Tuất cung Ly (Đông tứ mệnh), nữ cung Càn (Tây tứ mệnh). Cung phi tính từ năm âm lịch và giới tính, dùng để chọn hướng nhà. Xem tám hướng theo cung phi.
Tuổi Mậu Tuất 2018 hợp tuổi nào, kỵ tuổi nào?
Theo bảng dân gian, tuổi Tuất tam hợp Dần, Ngọ, lục hợp Mão; xung Thìn, hại Dậu.
| Quan hệ | Hợp hay kỵ | Tuổi | Năm sinh |
|---|---|---|---|
| Tam Hợp | Hợp | Dần | 1950, 1962, 1974, 1986, 1998, 2010, 2022 |
| Tam Hợp | Hợp | Ngọ | 1942, 1954, 1966, 1978, 1990, 2002, 2014, 2026 |
| Lục Hợp | Hợp | Mão | 1951, 1963, 1975, 1987, 1999, 2011, 2023 |
| Tứ Hành Xung (xung trực diện) | Kỵ | Thìn | 1940, 1952, 1964, 1976, 1988, 2000, 2012, 2024 |
| Tứ Hành Xung | Kỵ | Sửu | 1949, 1961, 1973, 1985, 1997, 2009, 2021 |
| Tứ Hành Xung | Kỵ | Mùi | 1943, 1955, 1967, 1979, 1991, 2003, 2015 |
| Lục Hại | Kỵ | Dậu | 1945, 1957, 1969, 1981, 1993, 2005, 2017 |
Bảng Tam Hợp / Tứ Hành Xung / Lục Hại là quy ước dân gian phổ biến, không phải phép tính duy nhất. Một số trường phái còn xét thêm Thiên Can và ngũ hành nạp âm trước khi kết luận hợp hay khắc.