Tra tuổi theo năm sinh
1979 là tuổi gì?
Người sinh năm 1979 tuổi Kỷ Mùi (con Dê), nạp âm Thiên Thượng Hỏa. Năm Kỷ Mùi bắt đầu từ Tết 28/01/1979 và kết thúc 15/02/1980.
Lịch pháp và thiên văn Can chi, nạp âm, ngày Tết và tuổi là phép tính; cung phi và tuổi hợp là quy ước thuật số.
| Can chi | Kỷ Mùi |
|---|---|
| Con giáp | Dê (Mùi) |
| Nạp âm | Thiên Thượng Hỏa, hành Hỏa |
| Năm âm lịch, tính theo dương lịch | 28/01/1979 - 15/02/1980 |
| Cung phi nam | Chấn, Đông tứ mệnh |
| Cung phi nữ | Chấn, Đông tứ mệnh |
| Tuổi năm 2026 | 47 tuổi, tuổi mụ 48 |
Sinh tháng 1, tháng 2 năm 1979 thì tuổi gì?
Tuổi tính theo năm âm lịch, đổi vào ngày Tết chứ không vào ngày 1 tháng 1. Người sinh từ 01/01/1979 tới 27/01/1979 vẫn thuộc năm Mậu Ngọ (1978); người sinh từ 01/01/1980 tới 15/02/1980 vẫn thuộc năm Kỷ Mùi. Đổi ngày sinh sang âm lịch.
Năm 2026 người sinh năm 1979 bao nhiêu tuổi?
Người sinh năm dương lịch 1979 tròn 47 tuổi khi qua sinh nhật năm 2026. Tuổi mụ của tuổi Kỷ Mùi năm 2026 là 48: tuổi mụ tính một tuổi lúc sinh và thêm một tuổi mỗi lần qua Tết.
Cung phi của người sinh năm 1979 là gì?
Theo Bát Trạch, nam sinh năm Kỷ Mùi cung Chấn (Đông tứ mệnh), nữ cung Chấn (Đông tứ mệnh). Cung phi tính từ năm âm lịch và giới tính, dùng để chọn hướng nhà. Xem tám hướng theo cung phi.
Tuổi Kỷ Mùi 1979 hợp tuổi nào, kỵ tuổi nào?
Theo bảng dân gian, tuổi Mùi tam hợp Hợi, Mão, lục hợp Ngọ; xung Sửu, hại Tý.
| Quan hệ | Hợp hay kỵ | Tuổi | Năm sinh |
|---|---|---|---|
| Tam Hợp | Hợp | Hợi | 1947, 1959, 1971, 1983, 1995, 2007, 2019 |
| Tam Hợp | Hợp | Mão | 1951, 1963, 1975, 1987, 1999, 2011, 2023 |
| Lục Hợp | Hợp | Ngọ | 1942, 1954, 1966, 1978, 1990, 2002, 2014, 2026 |
| Tứ Hành Xung | Kỵ | Thìn | 1940, 1952, 1964, 1976, 1988, 2000, 2012, 2024 |
| Tứ Hành Xung | Kỵ | Tuất | 1946, 1958, 1970, 1982, 1994, 2006, 2018 |
| Tứ Hành Xung (xung trực diện) | Kỵ | Sửu | 1949, 1961, 1973, 1985, 1997, 2009, 2021 |
| Lục Hại | Kỵ | Tý | 1948, 1960, 1972, 1984, 1996, 2008, 2020 |
Bảng Tam Hợp / Tứ Hành Xung / Lục Hại là quy ước dân gian phổ biến, không phải phép tính duy nhất. Một số trường phái còn xét thêm Thiên Can và ngũ hành nạp âm trước khi kết luận hợp hay khắc.