Tra tuổi theo năm sinh
1981 là tuổi gì?
Người sinh năm 1981 tuổi Tân Dậu (con Gà), nạp âm Thạch Lựu Mộc. Năm Tân Dậu bắt đầu từ Tết 05/02/1981 và kết thúc 24/01/1982.
Lịch pháp và thiên văn Can chi, nạp âm, ngày Tết và tuổi là phép tính; cung phi và tuổi hợp là quy ước thuật số.
| Can chi | Tân Dậu |
|---|---|
| Con giáp | Gà (Dậu) |
| Nạp âm | Thạch Lựu Mộc, hành Mộc |
| Năm âm lịch, tính theo dương lịch | 05/02/1981 - 24/01/1982 |
| Cung phi nam | Khảm, Đông tứ mệnh |
| Cung phi nữ | Cấn, Tây tứ mệnh |
| Tuổi năm 2026 | 45 tuổi, tuổi mụ 46 |
Sinh tháng 1, tháng 2 năm 1981 thì tuổi gì?
Tuổi tính theo năm âm lịch, đổi vào ngày Tết chứ không vào ngày 1 tháng 1. Người sinh từ 01/01/1981 tới 04/02/1981 vẫn thuộc năm Canh Thân (1980); người sinh từ 01/01/1982 tới 24/01/1982 vẫn thuộc năm Tân Dậu. Đổi ngày sinh sang âm lịch.
Năm 2026 người sinh năm 1981 bao nhiêu tuổi?
Người sinh năm dương lịch 1981 tròn 45 tuổi khi qua sinh nhật năm 2026. Tuổi mụ của tuổi Tân Dậu năm 2026 là 46: tuổi mụ tính một tuổi lúc sinh và thêm một tuổi mỗi lần qua Tết.
Cung phi của người sinh năm 1981 là gì?
Theo Bát Trạch, nam sinh năm Tân Dậu cung Khảm (Đông tứ mệnh), nữ cung Cấn (Tây tứ mệnh). Cung phi tính từ năm âm lịch và giới tính, dùng để chọn hướng nhà. Xem tám hướng theo cung phi.
Tuổi Tân Dậu 1981 hợp tuổi nào, kỵ tuổi nào?
Theo bảng dân gian, tuổi Dậu tam hợp Tỵ, Sửu, lục hợp Thìn; xung Mão, hại Tuất.
| Quan hệ | Hợp hay kỵ | Tuổi | Năm sinh |
|---|---|---|---|
| Tam Hợp | Hợp | Tỵ | 1941, 1953, 1965, 1977, 1989, 2001, 2013, 2025 |
| Tam Hợp | Hợp | Sửu | 1949, 1961, 1973, 1985, 1997, 2009, 2021 |
| Lục Hợp | Hợp | Thìn | 1940, 1952, 1964, 1976, 1988, 2000, 2012, 2024 |
| Tứ Hành Xung | Kỵ | Tý | 1948, 1960, 1972, 1984, 1996, 2008, 2020 |
| Tứ Hành Xung | Kỵ | Ngọ | 1942, 1954, 1966, 1978, 1990, 2002, 2014, 2026 |
| Tứ Hành Xung (xung trực diện) | Kỵ | Mão | 1951, 1963, 1975, 1987, 1999, 2011, 2023 |
| Lục Hại | Kỵ | Tuất | 1946, 1958, 1970, 1982, 1994, 2006, 2018 |
Bảng Tam Hợp / Tứ Hành Xung / Lục Hại là quy ước dân gian phổ biến, không phải phép tính duy nhất. Một số trường phái còn xét thêm Thiên Can và ngũ hành nạp âm trước khi kết luận hợp hay khắc.