Tra tuổi theo năm sinh
1949 là tuổi gì?
Người sinh năm 1949 tuổi Kỷ Sửu (con Trâu), nạp âm Tích Lịch Hỏa. Năm Kỷ Sửu bắt đầu từ Tết 29/01/1949 và kết thúc 16/02/1950.
Lịch pháp và thiên văn Can chi, nạp âm, ngày Tết và tuổi là phép tính; cung phi và tuổi hợp là quy ước thuật số.
| Can chi | Kỷ Sửu |
|---|---|
| Con giáp | Trâu (Sửu) |
| Nạp âm | Tích Lịch Hỏa, hành Hỏa |
| Năm âm lịch, tính theo dương lịch | 29/01/1949 - 16/02/1950 |
| Cung phi nam | Càn, Tây tứ mệnh |
| Cung phi nữ | Ly, Đông tứ mệnh |
| Tuổi năm 2026 | 77 tuổi, tuổi mụ 78 |
Sinh tháng 1, tháng 2 năm 1949 thì tuổi gì?
Tuổi tính theo năm âm lịch, đổi vào ngày Tết chứ không vào ngày 1 tháng 1. Người sinh từ 01/01/1949 tới 28/01/1949 vẫn thuộc năm Mậu Tý (1948); người sinh từ 01/01/1950 tới 16/02/1950 vẫn thuộc năm Kỷ Sửu. Đổi ngày sinh sang âm lịch.
Năm 2026 người sinh năm 1949 bao nhiêu tuổi?
Người sinh năm dương lịch 1949 tròn 77 tuổi khi qua sinh nhật năm 2026. Tuổi mụ của tuổi Kỷ Sửu năm 2026 là 78: tuổi mụ tính một tuổi lúc sinh và thêm một tuổi mỗi lần qua Tết.
Cung phi của người sinh năm 1949 là gì?
Theo Bát Trạch, nam sinh năm Kỷ Sửu cung Càn (Tây tứ mệnh), nữ cung Ly (Đông tứ mệnh). Cung phi tính từ năm âm lịch và giới tính, dùng để chọn hướng nhà. Xem tám hướng theo cung phi.
Tuổi Kỷ Sửu 1949 hợp tuổi nào, kỵ tuổi nào?
Theo bảng dân gian, tuổi Sửu tam hợp Tỵ, Dậu, lục hợp Tý; xung Mùi, hại Ngọ.
| Quan hệ | Hợp hay kỵ | Tuổi | Năm sinh |
|---|---|---|---|
| Tam Hợp | Hợp | Tỵ | 1941, 1953, 1965, 1977, 1989, 2001, 2013, 2025 |
| Tam Hợp | Hợp | Dậu | 1945, 1957, 1969, 1981, 1993, 2005, 2017 |
| Lục Hợp | Hợp | Tý | 1948, 1960, 1972, 1984, 1996, 2008, 2020 |
| Tứ Hành Xung | Kỵ | Thìn | 1940, 1952, 1964, 1976, 1988, 2000, 2012, 2024 |
| Tứ Hành Xung | Kỵ | Tuất | 1946, 1958, 1970, 1982, 1994, 2006, 2018 |
| Tứ Hành Xung (xung trực diện) | Kỵ | Mùi | 1943, 1955, 1967, 1979, 1991, 2003, 2015 |
| Lục Hại | Kỵ | Ngọ | 1942, 1954, 1966, 1978, 1990, 2002, 2014, 2026 |
Bảng Tam Hợp / Tứ Hành Xung / Lục Hại là quy ước dân gian phổ biến, không phải phép tính duy nhất. Một số trường phái còn xét thêm Thiên Can và ngũ hành nạp âm trước khi kết luận hợp hay khắc.