Tra tuổi theo năm sinh
2009 là tuổi gì?
Người sinh năm 2009 tuổi Kỷ Sửu (con Trâu), nạp âm Tích Lịch Hỏa. Năm Kỷ Sửu bắt đầu từ Tết 26/01/2009 và kết thúc 13/02/2010.
Lịch pháp và thiên văn Can chi, nạp âm, ngày Tết và tuổi là phép tính; cung phi và tuổi hợp là quy ước thuật số.
| Can chi | Kỷ Sửu |
|---|---|
| Con giáp | Trâu (Sửu) |
| Nạp âm | Tích Lịch Hỏa, hành Hỏa |
| Năm âm lịch, tính theo dương lịch | 26/01/2009 - 13/02/2010 |
| Cung phi nam | Ly, Đông tứ mệnh |
| Cung phi nữ | Càn, Tây tứ mệnh |
| Tuổi năm 2026 | 17 tuổi, tuổi mụ 18 |
Sinh tháng 1, tháng 2 năm 2009 thì tuổi gì?
Tuổi tính theo năm âm lịch, đổi vào ngày Tết chứ không vào ngày 1 tháng 1. Người sinh từ 01/01/2009 tới 25/01/2009 vẫn thuộc năm Mậu Tý (2008); người sinh từ 01/01/2010 tới 13/02/2010 vẫn thuộc năm Kỷ Sửu. Đổi ngày sinh sang âm lịch.
Năm 2026 người sinh năm 2009 bao nhiêu tuổi?
Người sinh năm dương lịch 2009 tròn 17 tuổi khi qua sinh nhật năm 2026. Tuổi mụ của tuổi Kỷ Sửu năm 2026 là 18: tuổi mụ tính một tuổi lúc sinh và thêm một tuổi mỗi lần qua Tết.
Cung phi của người sinh năm 2009 là gì?
Theo Bát Trạch, nam sinh năm Kỷ Sửu cung Ly (Đông tứ mệnh), nữ cung Càn (Tây tứ mệnh). Cung phi tính từ năm âm lịch và giới tính, dùng để chọn hướng nhà. Xem tám hướng theo cung phi.
Tuổi Kỷ Sửu 2009 hợp tuổi nào, kỵ tuổi nào?
Theo bảng dân gian, tuổi Sửu tam hợp Tỵ, Dậu, lục hợp Tý; xung Mùi, hại Ngọ.
| Quan hệ | Hợp hay kỵ | Tuổi | Năm sinh |
|---|---|---|---|
| Tam Hợp | Hợp | Tỵ | 1941, 1953, 1965, 1977, 1989, 2001, 2013, 2025 |
| Tam Hợp | Hợp | Dậu | 1945, 1957, 1969, 1981, 1993, 2005, 2017 |
| Lục Hợp | Hợp | Tý | 1948, 1960, 1972, 1984, 1996, 2008, 2020 |
| Tứ Hành Xung | Kỵ | Thìn | 1940, 1952, 1964, 1976, 1988, 2000, 2012, 2024 |
| Tứ Hành Xung | Kỵ | Tuất | 1946, 1958, 1970, 1982, 1994, 2006, 2018 |
| Tứ Hành Xung (xung trực diện) | Kỵ | Mùi | 1943, 1955, 1967, 1979, 1991, 2003, 2015 |
| Lục Hại | Kỵ | Ngọ | 1942, 1954, 1966, 1978, 1990, 2002, 2014, 2026 |
Bảng Tam Hợp / Tứ Hành Xung / Lục Hại là quy ước dân gian phổ biến, không phải phép tính duy nhất. Một số trường phái còn xét thêm Thiên Can và ngũ hành nạp âm trước khi kết luận hợp hay khắc.