Tra tuổi theo năm sinh
1988 là tuổi gì?
Người sinh năm 1988 tuổi Mậu Thìn (con Rồng), nạp âm Đại Lâm Mộc. Năm Mậu Thìn bắt đầu từ Tết 17/02/1988 và kết thúc 05/02/1989.
Lịch pháp và thiên văn Can chi, nạp âm, ngày Tết và tuổi là phép tính; cung phi và tuổi hợp là quy ước thuật số.
| Can chi | Mậu Thìn |
|---|---|
| Con giáp | Rồng (Thìn) |
| Nạp âm | Đại Lâm Mộc, hành Mộc |
| Năm âm lịch, tính theo dương lịch | 17/02/1988 - 05/02/1989 |
| Cung phi nam | Chấn, Đông tứ mệnh |
| Cung phi nữ | Chấn, Đông tứ mệnh |
| Tuổi năm 2026 | 38 tuổi, tuổi mụ 39 |
Sinh tháng 1, tháng 2 năm 1988 thì tuổi gì?
Tuổi tính theo năm âm lịch, đổi vào ngày Tết chứ không vào ngày 1 tháng 1. Người sinh từ 01/01/1988 tới 16/02/1988 vẫn thuộc năm Đinh Mão (1987); người sinh từ 01/01/1989 tới 05/02/1989 vẫn thuộc năm Mậu Thìn. Đổi ngày sinh sang âm lịch.
Năm 2026 người sinh năm 1988 bao nhiêu tuổi?
Người sinh năm dương lịch 1988 tròn 38 tuổi khi qua sinh nhật năm 2026. Tuổi mụ của tuổi Mậu Thìn năm 2026 là 39: tuổi mụ tính một tuổi lúc sinh và thêm một tuổi mỗi lần qua Tết.
Cung phi của người sinh năm 1988 là gì?
Theo Bát Trạch, nam sinh năm Mậu Thìn cung Chấn (Đông tứ mệnh), nữ cung Chấn (Đông tứ mệnh). Cung phi tính từ năm âm lịch và giới tính, dùng để chọn hướng nhà. Xem tám hướng theo cung phi.
Tuổi Mậu Thìn 1988 hợp tuổi nào, kỵ tuổi nào?
Theo bảng dân gian, tuổi Thìn tam hợp Thân, Tý, lục hợp Dậu; xung Tuất, hại Mão.
| Quan hệ | Hợp hay kỵ | Tuổi | Năm sinh |
|---|---|---|---|
| Tam Hợp | Hợp | Thân | 1944, 1956, 1968, 1980, 1992, 2004, 2016 |
| Tam Hợp | Hợp | Tý | 1948, 1960, 1972, 1984, 1996, 2008, 2020 |
| Lục Hợp | Hợp | Dậu | 1945, 1957, 1969, 1981, 1993, 2005, 2017 |
| Tứ Hành Xung (xung trực diện) | Kỵ | Tuất | 1946, 1958, 1970, 1982, 1994, 2006, 2018 |
| Tứ Hành Xung | Kỵ | Sửu | 1949, 1961, 1973, 1985, 1997, 2009, 2021 |
| Tứ Hành Xung | Kỵ | Mùi | 1943, 1955, 1967, 1979, 1991, 2003, 2015 |
| Lục Hại | Kỵ | Mão | 1951, 1963, 1975, 1987, 1999, 2011, 2023 |
Bảng Tam Hợp / Tứ Hành Xung / Lục Hại là quy ước dân gian phổ biến, không phải phép tính duy nhất. Một số trường phái còn xét thêm Thiên Can và ngũ hành nạp âm trước khi kết luận hợp hay khắc.