Tra tuổi theo năm sinh
2000 là tuổi gì?
Người sinh năm 2000 tuổi Canh Thìn (con Rồng), nạp âm Bạch Lạp Kim. Năm Canh Thìn bắt đầu từ Tết 05/02/2000 và kết thúc 23/01/2001.
Lịch pháp và thiên văn Can chi, nạp âm, ngày Tết và tuổi là phép tính; cung phi và tuổi hợp là quy ước thuật số.
| Can chi | Canh Thìn |
|---|---|
| Con giáp | Rồng (Thìn) |
| Nạp âm | Bạch Lạp Kim, hành Kim |
| Năm âm lịch, tính theo dương lịch | 05/02/2000 - 23/01/2001 |
| Cung phi nam | Ly, Đông tứ mệnh |
| Cung phi nữ | Càn, Tây tứ mệnh |
| Tuổi năm 2026 | 26 tuổi, tuổi mụ 27 |
Sinh tháng 1, tháng 2 năm 2000 thì tuổi gì?
Tuổi tính theo năm âm lịch, đổi vào ngày Tết chứ không vào ngày 1 tháng 1. Người sinh từ 01/01/2000 tới 04/02/2000 vẫn thuộc năm Kỷ Mão (1999); người sinh từ 01/01/2001 tới 23/01/2001 vẫn thuộc năm Canh Thìn. Đổi ngày sinh sang âm lịch.
Năm 2026 người sinh năm 2000 bao nhiêu tuổi?
Người sinh năm dương lịch 2000 tròn 26 tuổi khi qua sinh nhật năm 2026. Tuổi mụ của tuổi Canh Thìn năm 2026 là 27: tuổi mụ tính một tuổi lúc sinh và thêm một tuổi mỗi lần qua Tết.
Cung phi của người sinh năm 2000 là gì?
Theo Bát Trạch, nam sinh năm Canh Thìn cung Ly (Đông tứ mệnh), nữ cung Càn (Tây tứ mệnh). Cung phi tính từ năm âm lịch và giới tính, dùng để chọn hướng nhà. Xem tám hướng theo cung phi.
Tuổi Canh Thìn 2000 hợp tuổi nào, kỵ tuổi nào?
Theo bảng dân gian, tuổi Thìn tam hợp Thân, Tý, lục hợp Dậu; xung Tuất, hại Mão.
| Quan hệ | Hợp hay kỵ | Tuổi | Năm sinh |
|---|---|---|---|
| Tam Hợp | Hợp | Thân | 1944, 1956, 1968, 1980, 1992, 2004, 2016 |
| Tam Hợp | Hợp | Tý | 1948, 1960, 1972, 1984, 1996, 2008, 2020 |
| Lục Hợp | Hợp | Dậu | 1945, 1957, 1969, 1981, 1993, 2005, 2017 |
| Tứ Hành Xung (xung trực diện) | Kỵ | Tuất | 1946, 1958, 1970, 1982, 1994, 2006, 2018 |
| Tứ Hành Xung | Kỵ | Sửu | 1949, 1961, 1973, 1985, 1997, 2009, 2021 |
| Tứ Hành Xung | Kỵ | Mùi | 1943, 1955, 1967, 1979, 1991, 2003, 2015 |
| Lục Hại | Kỵ | Mão | 1951, 1963, 1975, 1987, 1999, 2011, 2023 |
Bảng Tam Hợp / Tứ Hành Xung / Lục Hại là quy ước dân gian phổ biến, không phải phép tính duy nhất. Một số trường phái còn xét thêm Thiên Can và ngũ hành nạp âm trước khi kết luận hợp hay khắc.