Tín ngưỡng và lễ hội của người Khmer Nam Bộ
Phật giáo Nam Tông là trung tâm đời sống tâm linh người Khmer Nam Bộ, với ngôi chùa làng và các lễ hội lớn như Chol Chnam Thmay và Ok Om Bok.
Hầu hết tiện ích không cần tài khoản. Hồ sơ để lưu và đọc tiếp.
Chọn ngôn ngữ
Trang này chưa có đủ ba bản ngôn ngữ.
Vì Phật giáo Nam Tông là nền tảng tổ chức đời sống cộng đồng Khmer, không tách rời khỏi sinh hoạt thường ngày. Ngôi chùa vừa là nơi tu học, vừa là trung tâm giáo dục, văn hóa và nghệ thuật của cả phum sóc, nơi tổ chức hầu hết các lễ hội lớn trong năm.
Phật giáo Nam Tông là trung tâm đời sống tâm linh người Khmer Nam Bộ, với ngôi chùa làng và các lễ hội lớn như Chol Chnam Thmay và Ok Om Bok.
Lễ cưới cổ truyền người Khmer Nam Bộ gồm lễ cắt hoa cau chính thức hôn ước và nghi thức cột tay gắn kết đôi linh hồn, mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc.
Khám phá lễ hội Ok Om Bok (cúng trăng) của đồng bào Khmer Nam Bộ: nguồn gốc, nghi thức cúng tại nhà và chùa, cùng màn đua ghe ngo đặc sắc tại Trà Vinh.
Nhiều dân tộc thiểu số Việt Nam đón năm mới theo lịch riêng, từ người Mông, Hà Nhì, Khmer, Chăm tới các tộc người Tây Nguyên, không trùng Tết Nguyên Đán.
Lễ Sene Dolta (Sen Đôn Ta, Pchum Ben) năm 2026 diễn ra ba ngày, từ 10 tới 12/10 dương lịch. Nghi thức ở chùa, ở nhà và ý nghĩa báo hiếu của người Khmer.
Tết Chôl Chnăm Thmây của người Khmer diễn ra giữa tháng 4 dương lịch, kéo dài ba ngày với nghi lễ rước Đại lịch, dâng cơm, đắp núi cát và tắm Phật.
Lễ ra hạ và dâng y Kathina của Phật giáo Nam tông Khmer diễn ra từ 16 tháng 9 tới rằm tháng 10 âm lịch, với nghi thức dâng y cà sa lên chư tăng.
So sánh Tết Nguyên Đán của người Kinh, Chôl Chnăm Thmây của người Khmer và các dân tộc đón Tết theo lịch riêng: thời điểm, lễ vật, nghi thức và cách gọi tên.
Dân tộc Khmer (Khơ Me) có 1.319.652 người theo điều tra 2019, cư trú chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long, nói tiếng nhóm Môn - Khơ Me, thờ Phật và tổ tiên.
Thần tích kể chuyện, sắc phong xác nhận cấp bậc: làng và nhà nước cùng tạo ra Thành hoàng, và vì sao đình Nam Bộ phối thờ thần gốc Hoa, Chăm, Khmer.
Mâm cúng giỗ miền Nam gồm gà, vịt, thịt kho hột vịt, canh khổ qua dồn thịt, bánh ít, bánh tét. Đám giỗ Nam Bộ kéo dài hai ngày, khách còn được phần mang về.
Đờn ca tài tử Nam Bộ gồm 20 bài tổ, lối chơi ngẫu hứng quanh chiếu đờn và dòng chảy nối vào cải lương. Bài viết phân tích bài bản, nhạc cụ, cách truyền dạy.
Tín ngưỡng thờ Ông Tà ở Nam Bộ bắt nguồn từ Neak Ta của người Khmer, phản ánh giao thoa văn hóa Việt - Khmer và ước vọng an cư, mùa màng tốt tươi.
Khám phá nguồn gốc, lịch sử hình thành và ý nghĩa văn hóa sâu sắc của áo bà ba, biểu tượng trang phục truyền thống của vùng đất Nam Bộ Việt Nam.
So sánh đình làng Bắc Bộ, Nam Bộ và vùng sông nước miền Tây qua kiến trúc, thần thờ, lễ vật và lễ hội, kèm bảng tóm tắt khác biệt chính giữa ba vế.
Theo Việt Nam phong tục, tế ngu tính từ ngày an táng: hôm chôn là sơ ngu, ngày thứ ba là tam ngu. Còn 49 ngày, 100 ngày, giỗ đầu thì đếm từ ngày mất.
So sánh bàn thờ gia tiên Bắc Bộ và Nam Bộ: vị trí, cấu tạo, đồ thờ, cách chọn mâm ngũ quả và số đời thờ cúng, kèm lý giải văn hoá, lịch sử.
Tang lễ Nam Bộ qua tư liệu báo chí: từ nhập quan, phát tang, cúng vong, nhạc lễ tới động quan, hạ huyệt, kèm chỗ các nguồn chỉ nói về từng địa phương.
Mừng tuổi và lì xì là một tục, hai tên gọi: miền Bắc xưa nói mừng tuổi, lì xì đi từ miền Nam ra; kèm lệ riêng được ghi ở Huế và ở Nam Bộ xưa.
Phong tục cưới hỏi người Chăm Nam Bộ theo Hồi giáo Islam gồm lễ dạm ngõ và lễ cưới chính, với vai trò người mối, lễ vật trầu cau và tiền thách cưới.
Khám phá lý do người miền Tây kiêng chưng chuối ngày Tết, cùng ý nghĩa bộ đôi câu đối 'Cầu Vừa Đủ Xài' và trái dư trong mâm ngũ quả Nam Bộ.
Văn hoá Nam Bộ gồm đình làng, tín ngưỡng thờ Bà, phương ngữ và nếp sống mở. Bài phân tích nguồn gốc, đặc điểm và sự khác biệt giữa các vùng.
Xông đất, xông nhà, đạp đất là một tục đầu năm. Sách phong tục miền Bắc, Huế và Nam Bộ tả khác nhau ở cách gọi, tục hái lộc và lệ vào khem chờ người xông.
Đám giỗ miền Tây Nam Bộ thường có tiên thường chiều hôm trước, chánh giỗ hôm sau và hậu thường. Tục đãi khách, phần mang về phản ánh nếp sống nghĩa tình.
Văn hoá miền Tây Nam Bộ gắn với nếp sống sông nước, chợ nổi ghe xuồng và lễ hội đồng bằng sông Cửu Long, tạo nên bản sắc riêng của vùng đất phương Nam.
Cúng cơm ba ngày Tết mùng Một, mùng Hai, mùng Ba gồm lễ Nguyên đán, Chiêu điện, Tịch điện và lễ Tạ. Bài nêu trình tự cúng và khác biệt tục lệ Bắc, Trung, Nam.
Lễ hội đua bò Bảy Núi của đồng bào Khmer An Giang diễn ra dịp Sene Dolta, nơi nài bò điều khiển cặp bò kéo bừa, thể hiện sự khéo léo và tinh thần đoàn kết.
Âm Nam, Dương Nam, Âm Nữ, Dương Nữ là cách phân loại theo Âm Dương của năm sinh, quyết định chiều đi thuận hay nghịch của Đại Hạn trong Tử Vi.
Lễ hội Cầu ngư ở Cửa Đại là dịp ngư dân tri ân thần Nam Hải, cầu mưa thuận gió hòa, mùa đánh bắt bội thu, với nghi thức trang nghiêm và phần hội đặc sắc.
Mâm cúng giỗ miền Trung khác mâm giỗ xứ Huế ở đâu? Phân tích lễ tiên thường, chánh kỵ, giỗ gộp tháng 7 và cách bày biện món Huế trên mâm cúng.
Khám phá lễ hội Tra hạt làm lễ cầu mưa của người Khơ Mú tại Điện Biên: nguồn gốc, nghi thức, lễ vật và ý nghĩa văn hóa nông nghiệp sâu sắc.
Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không, Dương Không Lộ trong Lĩnh Nam chích quái là truyện truyền kỳ có phép lạ, khác tầng văn bản Phật giáo và tầng thờ cúng ở làng.
Lễ hội Tiên Công vùng đảo Hà Nam, Quảng Ninh diễn ra mùng 7 tháng Giêng với nghi lễ rước người, rước thọ. Tìm hiểu 17 vị tiên công và trình tự lễ hội.
Lễ hội chùa Keo Hành Thiện diễn ra trung tuần tháng Chín âm lịch, thờ Thiền sư Dương Không Lộ, với bơi chải, đếm tôm, bắt vịt, cờ người và kiến trúc Hậu Lê.
Tổng hợp các ngày vía Phật Thích Ca, Quan Âm, Địa Tạng, Văn Thù, Phổ Hiền và các vị Bồ Tát theo âm lịch, kèm nguồn gốc và ý nghĩa thực hành.
Năm 2028 là Mậu Thân, nạp âm Đại Trạch Thổ. Tuổi bố mẹ nào thuận, tuổi nào nghịch theo thiên can, địa chi, nạp âm, kèm bảng năm sinh 1984 tới 2001.
Sinh con năm 2029 Kỷ Dậu, nạp âm Đại Trạch Thổ: bố mẹ tuổi nào được tính là hợp hay xung theo can, chi, nạp âm, kèm bảng năm sinh 1984 tới 2001.
Nhã nhạc cung đình Huế là âm nhạc lễ nghi triều Nguyễn, gắn với tế Nam Giao và triều nghi. Bài phân tích dàn nhạc, cấu trúc và lý do UNESCO ghi danh.
Ngũ nhạc trên khuôn mặt ứng với trán, cằm, mũi và hai gò má, được Thần tướng thiết quan đao lý giải và đối chiếu với tục Việt.
Dân tộc Ngái là một trong 54 dân tộc Việt Nam, dân số rất ít, cư trú phân tán ở Quảng Ninh, Hải Phòng, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng.
Dân tộc Lào ở Việt Nam gọi mình là Thay, nói tiếng nhóm Tày - Thái, sống ở Lai Châu và Sơn La, thờ tổ tiên và đón Tết Bun Pi May tháng 4 âm lịch.
Dân tộc Brâu cư trú tập trung ở làng Đắc Mế, xã Bờ Y, Kon Tum. Tiếng nói thuộc nhóm Môn-Khơ Me, đời sống gắn với thờ cúng thần linh và lễ ăn mừng cơm mới.
Nhà văn hiện thực, tác giả Chí Phèo và Lão Hạc
155 loại lễ cúng của người Việt Nam chia 15 nhóm, từ gia tiên, giỗ chạp, Tết, tiết lễ trong năm tới tang ma, đình đền phủ và lễ của các dân tộc; mỗi lễ kèm tên khác, thời điểm, đối tượng cúng, mô tả ngắn, các trục phân loại (chu kỳ, không gian, đối tượng thờ, truyền thống, dân tộc, vùng văn hoá), ngày lễ có cấu trúc và đoạn phong tục có nguồn. Là bảng khoá của các bộ văn cúng và phong tục lễ cúng của Nhật Nguyệt.
Hầu hết tiện ích không cần tài khoản. Hồ sơ để lưu và đọc tiếp.
Chọn ngôn ngữ
Trang này chưa có đủ ba bản ngôn ngữ.