Tra tuổi theo năm sinh
1976 là tuổi gì?
Người sinh năm 1976 tuổi Bính Thìn (con Rồng), nạp âm Sa Trung Thổ. Năm Bính Thìn bắt đầu từ Tết 31/01/1976 và kết thúc 17/02/1977.
Lịch pháp và thiên văn Can chi, nạp âm, ngày Tết và tuổi là phép tính; cung phi và tuổi hợp là quy ước thuật số.
| Can chi | Bính Thìn |
|---|---|
| Con giáp | Rồng (Thìn) |
| Nạp âm | Sa Trung Thổ, hành Thổ |
| Năm âm lịch, tính theo dương lịch | 31/01/1976 - 17/02/1977 |
| Cung phi nam | Càn, Tây tứ mệnh |
| Cung phi nữ | Ly, Đông tứ mệnh |
| Tuổi năm 2026 | 50 tuổi, tuổi mụ 51 |
Sinh tháng 1, tháng 2 năm 1976 thì tuổi gì?
Tuổi tính theo năm âm lịch, đổi vào ngày Tết chứ không vào ngày 1 tháng 1. Người sinh từ 01/01/1976 tới 30/01/1976 vẫn thuộc năm Ất Mão (1975); người sinh từ 01/01/1977 tới 17/02/1977 vẫn thuộc năm Bính Thìn. Đổi ngày sinh sang âm lịch.
Năm 2026 người sinh năm 1976 bao nhiêu tuổi?
Người sinh năm dương lịch 1976 tròn 50 tuổi khi qua sinh nhật năm 2026. Tuổi mụ của tuổi Bính Thìn năm 2026 là 51: tuổi mụ tính một tuổi lúc sinh và thêm một tuổi mỗi lần qua Tết.
Cung phi của người sinh năm 1976 là gì?
Theo Bát Trạch, nam sinh năm Bính Thìn cung Càn (Tây tứ mệnh), nữ cung Ly (Đông tứ mệnh). Cung phi tính từ năm âm lịch và giới tính, dùng để chọn hướng nhà. Xem tám hướng theo cung phi.
Tuổi Bính Thìn 1976 hợp tuổi nào, kỵ tuổi nào?
Theo bảng dân gian, tuổi Thìn tam hợp Thân, Tý, lục hợp Dậu; xung Tuất, hại Mão.
| Quan hệ | Hợp hay kỵ | Tuổi | Năm sinh |
|---|---|---|---|
| Tam Hợp | Hợp | Thân | 1944, 1956, 1968, 1980, 1992, 2004, 2016 |
| Tam Hợp | Hợp | Tý | 1948, 1960, 1972, 1984, 1996, 2008, 2020 |
| Lục Hợp | Hợp | Dậu | 1945, 1957, 1969, 1981, 1993, 2005, 2017 |
| Tứ Hành Xung (xung trực diện) | Kỵ | Tuất | 1946, 1958, 1970, 1982, 1994, 2006, 2018 |
| Tứ Hành Xung | Kỵ | Sửu | 1949, 1961, 1973, 1985, 1997, 2009, 2021 |
| Tứ Hành Xung | Kỵ | Mùi | 1943, 1955, 1967, 1979, 1991, 2003, 2015 |
| Lục Hại | Kỵ | Mão | 1951, 1963, 1975, 1987, 1999, 2011, 2023 |
Bảng Tam Hợp / Tứ Hành Xung / Lục Hại là quy ước dân gian phổ biến, không phải phép tính duy nhất. Một số trường phái còn xét thêm Thiên Can và ngũ hành nạp âm trước khi kết luận hợp hay khắc.