Tra tuổi theo năm sinh
1942 là tuổi gì?
Người sinh năm 1942 tuổi Nhâm Ngọ (con Ngựa), nạp âm Dương Liễu Mộc. Năm Nhâm Ngọ bắt đầu từ Tết 15/02/1942 và kết thúc 04/02/1943.
Lịch pháp và thiên văn Can chi, nạp âm, ngày Tết và tuổi là phép tính; cung phi và tuổi hợp là quy ước thuật số.
| Can chi | Nhâm Ngọ |
|---|---|
| Con giáp | Ngựa (Ngọ) |
| Nạp âm | Dương Liễu Mộc, hành Mộc |
| Năm âm lịch, tính theo dương lịch | 15/02/1942 - 04/02/1943 |
| Cung phi nam | Tốn, Đông tứ mệnh |
| Cung phi nữ | Khôn, Tây tứ mệnh |
| Tuổi năm 2026 | 84 tuổi, tuổi mụ 85 |
Sinh tháng 1, tháng 2 năm 1942 thì tuổi gì?
Tuổi tính theo năm âm lịch, đổi vào ngày Tết chứ không vào ngày 1 tháng 1. Người sinh từ 01/01/1942 tới 14/02/1942 vẫn thuộc năm Tân Tỵ (1941); người sinh từ 01/01/1943 tới 04/02/1943 vẫn thuộc năm Nhâm Ngọ. Đổi ngày sinh sang âm lịch.
Năm 2026 người sinh năm 1942 bao nhiêu tuổi?
Người sinh năm dương lịch 1942 tròn 84 tuổi khi qua sinh nhật năm 2026. Tuổi mụ của tuổi Nhâm Ngọ năm 2026 là 85: tuổi mụ tính một tuổi lúc sinh và thêm một tuổi mỗi lần qua Tết.
Cung phi của người sinh năm 1942 là gì?
Theo Bát Trạch, nam sinh năm Nhâm Ngọ cung Tốn (Đông tứ mệnh), nữ cung Khôn (Tây tứ mệnh). Cung phi tính từ năm âm lịch và giới tính, dùng để chọn hướng nhà. Xem tám hướng theo cung phi.
Tuổi Nhâm Ngọ 1942 hợp tuổi nào, kỵ tuổi nào?
Theo bảng dân gian, tuổi Ngọ tam hợp Dần, Tuất, lục hợp Mùi; xung Tý, hại Sửu.
| Quan hệ | Hợp hay kỵ | Tuổi | Năm sinh |
|---|---|---|---|
| Tam Hợp | Hợp | Dần | 1950, 1962, 1974, 1986, 1998, 2010, 2022 |
| Tam Hợp | Hợp | Tuất | 1946, 1958, 1970, 1982, 1994, 2006, 2018 |
| Lục Hợp | Hợp | Mùi | 1943, 1955, 1967, 1979, 1991, 2003, 2015 |
| Tứ Hành Xung (xung trực diện) | Kỵ | Tý | 1948, 1960, 1972, 1984, 1996, 2008, 2020 |
| Tứ Hành Xung | Kỵ | Mão | 1951, 1963, 1975, 1987, 1999, 2011, 2023 |
| Tứ Hành Xung | Kỵ | Dậu | 1945, 1957, 1969, 1981, 1993, 2005, 2017 |
| Lục Hại | Kỵ | Sửu | 1949, 1961, 1973, 1985, 1997, 2009, 2021 |
Bảng Tam Hợp / Tứ Hành Xung / Lục Hại là quy ước dân gian phổ biến, không phải phép tính duy nhất. Một số trường phái còn xét thêm Thiên Can và ngũ hành nạp âm trước khi kết luận hợp hay khắc.