Tra tuổi theo năm sinh
1966 là tuổi gì?
Người sinh năm 1966 tuổi Bính Ngọ (con Ngựa), nạp âm Thiên Hà Thủy. Năm Bính Ngọ bắt đầu từ Tết 21/01/1966 và kết thúc 08/02/1967.
Lịch pháp và thiên văn Can chi, nạp âm, ngày Tết và tuổi là phép tính; cung phi và tuổi hợp là quy ước thuật số.
| Can chi | Bính Ngọ |
|---|---|
| Con giáp | Ngựa (Ngọ) |
| Nạp âm | Thiên Hà Thủy, hành Thủy |
| Năm âm lịch, tính theo dương lịch | 21/01/1966 - 08/02/1967 |
| Cung phi nam | Đoài, Tây tứ mệnh |
| Cung phi nữ | Cấn, Tây tứ mệnh |
| Tuổi năm 2026 | 60 tuổi, tuổi mụ 61 |
Sinh tháng 1, tháng 2 năm 1966 thì tuổi gì?
Tuổi tính theo năm âm lịch, đổi vào ngày Tết chứ không vào ngày 1 tháng 1. Người sinh từ 01/01/1966 tới 20/01/1966 vẫn thuộc năm Ất Tỵ (1965); người sinh từ 01/01/1967 tới 08/02/1967 vẫn thuộc năm Bính Ngọ. Đổi ngày sinh sang âm lịch.
Năm 2026 người sinh năm 1966 bao nhiêu tuổi?
Người sinh năm dương lịch 1966 tròn 60 tuổi khi qua sinh nhật năm 2026. Tuổi mụ của tuổi Bính Ngọ năm 2026 là 61: tuổi mụ tính một tuổi lúc sinh và thêm một tuổi mỗi lần qua Tết.
Cung phi của người sinh năm 1966 là gì?
Theo Bát Trạch, nam sinh năm Bính Ngọ cung Đoài (Tây tứ mệnh), nữ cung Cấn (Tây tứ mệnh). Cung phi tính từ năm âm lịch và giới tính, dùng để chọn hướng nhà. Xem tám hướng theo cung phi.
Tuổi Bính Ngọ 1966 hợp tuổi nào, kỵ tuổi nào?
Theo bảng dân gian, tuổi Ngọ tam hợp Dần, Tuất, lục hợp Mùi; xung Tý, hại Sửu.
| Quan hệ | Hợp hay kỵ | Tuổi | Năm sinh |
|---|---|---|---|
| Tam Hợp | Hợp | Dần | 1950, 1962, 1974, 1986, 1998, 2010, 2022 |
| Tam Hợp | Hợp | Tuất | 1946, 1958, 1970, 1982, 1994, 2006, 2018 |
| Lục Hợp | Hợp | Mùi | 1943, 1955, 1967, 1979, 1991, 2003, 2015 |
| Tứ Hành Xung (xung trực diện) | Kỵ | Tý | 1948, 1960, 1972, 1984, 1996, 2008, 2020 |
| Tứ Hành Xung | Kỵ | Mão | 1951, 1963, 1975, 1987, 1999, 2011, 2023 |
| Tứ Hành Xung | Kỵ | Dậu | 1945, 1957, 1969, 1981, 1993, 2005, 2017 |
| Lục Hại | Kỵ | Sửu | 1949, 1961, 1973, 1985, 1997, 2009, 2021 |
Bảng Tam Hợp / Tứ Hành Xung / Lục Hại là quy ước dân gian phổ biến, không phải phép tính duy nhất. Một số trường phái còn xét thêm Thiên Can và ngũ hành nạp âm trước khi kết luận hợp hay khắc.