Hát xẩm là gì: từ chiếu xẩm chợ quê tới xẩm tàu điện Hà Nội
Hát xẩm là loại hình diễn xướng dân gian hình thành khoảng thế kỷ 14, gắn với chợ quê, sân đình và cả tàu điện Hà Nội. Tìm hiểu làn điệu, nghệ nhân, bảo tồn.
Hầu hết công cụ không cần tài khoản. Hồ sơ để lưu và đọc tiếp.
Chọn ngôn ngữ
Trang này chưa có đủ ba bản ngôn ngữ.
Anh chị có thể thử:
Hát xẩm là loại hình diễn xướng dân gian hình thành khoảng thế kỷ 14, gắn với chợ quê, sân đình và cả tàu điện Hà Nội. Tìm hiểu làn điệu, nghệ nhân, bảo tồn.
Văn hoá Nam Bộ gồm đình làng, tín ngưỡng thờ Bà, phương ngữ và nếp sống mở. Bài phân tích nguồn gốc, đặc điểm và sự khác biệt giữa các vùng.
Dân ca quan họ Bắc Ninh là lối hát đối đáp giữa liền anh và liền chị, gắn với lề lối kết chạ và canh hát, được UNESCO ghi danh năm 2009.
Ca trù có đào nương, kép đàn, quan viên cầm chầu. Bài viết giải thích cấu trúc buổi hát, hành trình hồi sinh và vì sao di sản này từng suýt mất.
Đờn ca tài tử Nam Bộ gồm 20 bài tổ, lối chơi ngẫu hứng quanh chiếu đờn và dòng chảy nối vào cải lương. Bài viết phân tích bài bản, nhạc cụ, cách truyền dạy.
Khám phá nguồn gốc, lịch sử hình thành và ý nghĩa văn hóa sâu sắc của áo bà ba, biểu tượng trang phục truyền thống của vùng đất Nam Bộ Việt Nam.
Phật giáo Nam Tông là trung tâm đời sống tâm linh người Khmer Nam Bộ, với ngôi chùa làng và các lễ hội lớn như Chol Chnam Thmay và Ok Om Bok.
Tín ngưỡng thờ Ông Tà ở Nam Bộ bắt nguồn từ Neak Ta của người Khmer, phản ánh giao thoa văn hóa Việt - Khmer và ước vọng an cư, mùa màng tốt tươi.
So sánh đình làng Bắc Bộ, Nam Bộ và vùng sông nước miền Tây qua kiến trúc, thần thờ, lễ vật và lễ hội, kèm bảng tóm tắt khác biệt chính giữa ba vế.
So sánh bàn thờ gia tiên Bắc Bộ và Nam Bộ: vị trí, cấu tạo, đồ thờ, cách chọn mâm ngũ quả và số đời thờ cúng, kèm lý giải văn hoá, lịch sử.
Tang lễ Nam Bộ qua tư liệu báo chí: từ nhập quan, phát tang, cúng vong, nhạc lễ tới động quan, hạ huyệt, kèm chỗ các nguồn chỉ nói về từng địa phương.
Mừng tuổi và lì xì là một tục, hai tên gọi: miền Bắc xưa nói mừng tuổi, lì xì đi từ miền Nam ra; kèm lệ riêng được ghi ở Huế và ở Nam Bộ xưa.
Âm Nam, Dương Nam, Âm Nữ, Dương Nữ là cách phân loại theo Âm Dương của năm sinh, quyết định chiều đi thuận hay nghịch của Đại Hạn trong Tử Vi.
Dân tộc Bố Y gồm hai nhóm địa phương Bố Y và Tu Dí, cư trú ở Hà Giang và Lào Cai, nói hai ngữ hệ khác nhau và giữ nhiều tập tục thờ cúng, lễ tết riêng.
Khám phá lý do người miền Tây kiêng chưng chuối ngày Tết, cùng ý nghĩa bộ đôi câu đối 'Cầu Vừa Đủ Xài' và trái dư trong mâm ngũ quả Nam Bộ.
Phong tục cưới hỏi người Chăm Nam Bộ theo Hồi giáo Islam gồm lễ dạm ngõ và lễ cưới chính, với vai trò người mối, lễ vật trầu cau và tiền thách cưới.
Lễ hội Cầu ngư ở Cửa Đại là dịp ngư dân tri ân thần Nam Hải, cầu mưa thuận gió hòa, mùa đánh bắt bội thu, với nghi thức trang nghiêm và phần hội đặc sắc.
Lễ cưới cổ truyền người Khmer Nam Bộ gồm lễ cắt hoa cau chính thức hôn ước và nghi thức cột tay gắn kết đôi linh hồn, mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc.
Xông đất, xông nhà, đạp đất là một tục đầu năm. Sách phong tục miền Bắc, Huế và Nam Bộ tả khác nhau ở cách gọi, tục hái lộc và lệ vào khem chờ người xông.
Tết Sử Giề Pà (Lễ tạ ơn trâu) của người Bố Y ở Lào Cai diễn ra ngày 8/4 âm lịch với mâm lễ chung của cả làng, tạ ơn trâu và cầu mùa màng.
Khám phá lễ hội Ok Om Bok (cúng trăng) của đồng bào Khmer Nam Bộ: nguồn gốc, nghi thức cúng tại nhà và chùa, cùng màn đua ghe ngo đặc sắc tại Trà Vinh.
Tín ngưỡng thờ Chúa Thác Bờ ở Hòa Bình gắn với hai nữ tướng thời Lê Lợi có công vận chuyển lương thảo qua sông Đà, thể hiện sự tri ân của người dân.
Văn hoá miền Tây Nam Bộ gắn với nếp sống sông nước, chợ nổi ghe xuồng và lễ hội đồng bằng sông Cửu Long, tạo nên bản sắc riêng của vùng đất phương Nam.
Cúng cơm ba ngày Tết mùng Một, mùng Hai, mùng Ba gồm lễ Nguyên đán, Chiêu điện, Tịch điện và lễ Tạ. Bài nêu trình tự cúng và khác biệt tục lệ Bắc, Trung, Nam.
Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh chọn Hoa Lư làm kinh đô Đại Cồ Việt nhờ núi đá vôi như thành tự nhiên, sông Hoàng Long làm đường thủy và gần quê nhà vua.
Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam được UNESCO ghi danh năm 2024, kết tinh tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt, Chăm, Khmer, Hoa và khát vọng bình an nơi Châu Đốc.
Lễ mở cửa mả (khai mộ) cử hành khoảng ba ngày sau an táng ở Nam Bộ: lễ vật, ý nghĩa dân gian của gà con, thang tre, mía lau và cách nhìn của Phật giáo.
Quẻ Sơn Địa Bác (quẻ 23) trong Kinh Dịch: núi trên đất, thời Âm thịnh Dương suy, bài học nhận diện lúc suy tàn để thuận thời và chờ cơ phục hồi.
Lễ giỗ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh tưởng niệm người khai phá Nam Bộ năm 1698, được ghi danh Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2025.
Lễ Sene Dolta còn gọi Sen Đôn Ta, Pchum Ben, lễ báo hiếu ông bà tổ tiên của người Khmer Nam Bộ. Tìm hiểu thời gian, nghi thức ở chùa và ở nhà, cùng ý nghĩa.
Mâm cúng giỗ miền Trung khác mâm giỗ xứ Huế ở đâu? Phân tích lễ tiên thường, chánh kỵ, giỗ gộp tháng 7 và cách bày biện món Huế trên mâm cúng.
Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn mười hai sứ quân, thống nhất đất nước và lập nước Đại Cồ Việt năm 968, lập lại chính quyền trung ương sau hơn hai mươi năm cát cứ.
Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không, Dương Không Lộ trong Lĩnh Nam chích quái là truyện truyền kỳ có phép lạ, khác tầng văn bản Phật giáo và tầng thờ cúng ở làng.
Lễ hội Tiên Công vùng đảo Hà Nam, Quảng Ninh diễn ra mùng 7 tháng Giêng với nghi lễ rước người, rước thọ. Tìm hiểu 17 vị tiên công và trình tự lễ hội.
Lễ hội chùa Keo Hành Thiện diễn ra trung tuần tháng Chín âm lịch, thờ Thiền sư Dương Không Lộ, với bơi chải, đếm tôm, bắt vịt, cờ người và kiến trúc Hậu Lê.
Việt Nam có 54 dân tộc theo Danh mục các thành phần dân tộc năm 1979. Danh mục chính thức, phân bố theo vùng và nét văn hoá chung.
Tín ngưỡng thờ cá Ông và lễ Cầu Ngư là hồn cốt văn hóa duyên hải Nam Trung Bộ, gắn với đời sống làng biển và tâm linh ngư dân.
Nhật Quang và Nguyệt Quang Bồ Tát là hai vị thị giả hầu hai bên Đức Phật Dược Sư, tượng trưng cho ánh sáng Mặt Trời và Mặt Trăng soi khắp chúng sinh.
Nhã nhạc cung đình Huế là âm nhạc lễ nghi triều Nguyễn, gắn với tế Nam Giao và triều nghi. Bài phân tích dàn nhạc, cấu trúc và lý do UNESCO ghi danh.
Ngũ nhạc trên khuôn mặt ứng với trán, cằm, mũi và hai gò má, được Thần tướng thiết quan đao lý giải và đối chiếu với tục Việt.
Chèo là loại hình sân khấu kịch hát dân gian gắn với lễ hội đồng bằng Bắc Bộ, diễn ở chiếu chèo sân đình, với các vai và tích trò cổ như Quan Âm Thị Kính.
Nhà văn hiện thực, tác giả Chí Phèo và Lão Hạc
Hầu hết công cụ không cần tài khoản. Hồ sơ để lưu và đọc tiếp.
Chọn ngôn ngữ
Trang này chưa có đủ ba bản ngôn ngữ.