Lễ gọi hồn gọi vía của người Việt và dân tộc thiểu số làm thế nào?
Lễ gọi hồn, gọi vía được làm khi ốm đau, ngã, sợ hãi hay đi xa về. Tìm hiểu ai làm, lễ vật, cách gọi và sự khác nhau giữa các dân tộc.
Hầu hết tiện ích không cần tài khoản. Hồ sơ để lưu và đọc tiếp.
Chọn ngôn ngữ
Trang này chưa có đủ ba bản ngôn ngữ.
Anh chị có thể thử:
Lễ gọi hồn, gọi vía được làm khi ốm đau, ngã, sợ hãi hay đi xa về. Tìm hiểu ai làm, lễ vật, cách gọi và sự khác nhau giữa các dân tộc.
Lễ bỏ mả Pơ Thi của người Gia Rai đánh dấu sự kết thúc mối liên hệ giữa người sống và người chết, gắn với nghệ thuật tượng nhà mồ.
Vương Sung đời Đông Hán bác tục chọn ngày, kiêng Thái Tuế, tin họa túy trong các thiên Cơ nhật, Biện túy, Nạn tuế của Luận hành, kèm nguyên văn chữ Hán.
Chu Công giải mộng không có dòng riêng cho mơ thấy có bầu; điềm sinh nở đi qua hình ảnh khác như mặt trời vào lòng, trẻ mới sinh, mất quần áo.
Mơ thấy người chết, người thân đã mất: Chu Công giải mộng ghi những dòng nào, dòng nào là điềm lành, dòng nào là điềm xấu, đọc từ sách gốc.
Văn khấn ngày giỗ gồm mấy phần, xưng hô theo vai vế ra sao và vì sao phải khấn Thổ công trước gia tiên? Bài phân tích cấu trúc, vai vế và các dị bản.
Đối chiếu năm sách gốc của Tử Bình: Uyên Hải Tử Bình, Tam Mệnh Thông Hội, Trích Thiên Tủy, Cùng Thông Bảo Giám và Tử Bình Chân Thuyên khác nhau ở đâu.
Tiểu vận trong Bát Tự là vận một năm, bổ sung cho đại vận mười năm. Bài viết giải thích phép khởi tiểu vận nam Bính Dần, nữ Nhâm Thân theo Tam Mệnh Thông Hội.
Dân tộc chí của Heonik Kwon cho thấy cúng cô hồn và thờ vong ở Quảng Nam, Quảng Ngãi là cách cộng đồng miền Trung sống cùng ký ức chiến tranh.
Theo Lục Nhâm đại toàn: Nguyên Thủ là chỉ một khóa trên khắc dưới, Trùng Thẩm chỉ một khóa dưới khắc trên, Tri Nhất và Thiệp Hại là nhiều khóa cùng khắc.
Tang lễ miền Bắc truyền thống trải qua nhiều lớp nghi lễ: khâm liệm, nhập quan, phát tang, cúng cơm, tế ngu. Mỗi lớp mang một tầng nghĩa hiếu đạo riêng.
Lễ hội Làm Chay ở xã Tầm Vu, Tây Ninh diễn ra rằm và 16 tháng Giêng âm lịch với nghi thức thỉnh ông Tiêu, chiêu u, phóng đăng và xô giàn.
Khám phá quẻ Lôi Địa Dự (quẻ 16) trong Kinh Dịch: cấu trúc quẻ, ý nghĩa các hào, và những bài học sâu sắc về sự chuẩn bị, khiêm tốn và lãnh đạo.
Mơ thấy tiền vàng bạc theo Chu Công giải mộng: các dòng gốc ở mục vàng bạc châu ngọc, điềm nhặt được tiền, chia của, và vì sao tiền lúc lành lúc dữ.
Tiết Hàn Lộ là tiết thứ 17 trong 24 tiết khí, bắt đầu khoảng ngày 8 tháng 10 dương lịch khi Mặt Trời tới kinh độ 195 độ. Tìm hiểu ý nghĩa và tục lệ.
Khóa thể Lục Nhâm là tên gọi của từng dạng quẻ, hình thành từ tứ khóa, tam truyền và quan hệ can chi; mỗi quẻ được gọi bằng tổ hợp nhiều khóa thể.
Huyền Vũ là một trong sáu lục thú của Lục Hào, an theo can ngày gieo quẻ. Bài nêu bảng an và những chỗ Tăng san bốc dịch nói Huyền Vũ chủ trộm cướp.
Người Ê Đê ở Đắk Lắk theo chế độ mẫu hệ, sống trong nhà dài, thờ các thần Yang và tổ chức lễ bỏ mả tiễn linh hồn người chết về với tổ tiên.
Sách tướng cổ đoán nốt ruồi theo chỗ mọc và màu: chỗ kín phần nhiều cát, giữa rốn sinh quý tử, trên gáy chủ uy quyền, giữa thắt lưng lại là điềm xấu.
Khám phá các nghi thức chính trong tang lễ truyền thống Việt Nam, từ lễ khâm liệm, phát tang đến an táng và cúng 49 ngày, cùng ý nghĩa văn hóa của từng bước.
Táng thư định nghĩa nghìn thước là thế, trăm thước là hình: thế là đà núi chạy xa, hình là khối đất kết gần huyệt. Thế tới hình dừng thì khí tụ.
Tiết Vũ Thủy là tiết khí thứ hai trong 24 tiết, đánh dấu mưa ẩm và đất ấm sau đông. Bài giải thích cách tính ngày, ý nghĩa và tục lệ dân gian.
Dân tộc Xơ Đăng gồm các nhóm Xơ Teng, Tơ Đrá, Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng, Tà Trĩ, Châu, cư trú ở Kon Tum, Quảng Nam, Quảng Ngãi, thờ thần nước, thần lúa.
Dân tộc Ra Glai sống ở vùng núi Nam Trung Bộ, nói tiếng nhóm Malayô-Pôlynêxia, theo chế độ mẫu hệ và có hệ lễ nghi nông nghiệp, thờ cúng riêng.
Dân tộc Thổ thuộc nhóm ngôn ngữ Việt Mường, cư trú chủ yếu ở miền Tây Nghệ An và Thanh Hoá, có hệ thống thờ cúng thần linh, tổ tiên và bà mụ riêng.
Dân tộc La Ha thuộc nhóm ngôn ngữ Ka Đai, cư trú ở Yên Bái và Sơn La. Bài viết tổng hợp tên gọi, dân số, nhà ở, hôn nhân và tập tục thờ cúng của người La Ha.
Mai Hoa Dịch Số lập quẻ Kinh Dịch từ ngoại cảnh, âm thanh, con số thay vì gieo tiền hay cỏ thi. Truyền thống quy sách cho Thiệu Ung.
Bốc mộ cải táng thường làm sau khi mãn tang, phổ biến từ ba đến năm năm; quy định hiện hành đòi tối thiểu 36 tháng. Nguồn gốc tục lệ và điều cần biết.
Dân tộc Bru - Vân Kiều có 94.598 người, cư trú dọc Trường Sơn ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế. Tiếng nói, thờ cúng và lễ hội chính.
Dân tộc Mnông thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me, cư trú lâu đời ở trung Tây Nguyên, nổi bật với văn hóa mẫu hệ, lễ đâm trâu và kho sử thi truyền miệng.
Tiết Tiểu Thử thường bắt đầu ngày 7 tháng 7 dương lịch, mở đầu tháng Mùi. Giờ giao tiết 2025 tới 2030, nghĩa tên gọi và sách cổ chép gì về tiết này.
Tướng quân tiễn, Diêm vương quan, Dạ đề quan: Tam mệnh thông hội chép gì, sách Tử Vi tính các giờ này theo mùa sinh ra sao, và các sách khác nhau ở đâu.
Tiết Tiểu Mãn, tiết khí thứ 8, bắt đầu ngày 20 hoặc 21/5 khi Mặt Trời tới kinh độ 60 độ, là trung khí tháng Tư âm lịch. Năm 2026 giao tiết 7:28 ngày 21/5.
Táng thư kể năm loại núi không nên đặt huyệt: đồng sơn, đoạn sơn, thạch sơn, quá sơn, độc sơn. Bài phân tích lý do sách nêu và các trường hợp ngoại lệ.
Giáp cung là hai cung kề hai bên một cung, tạo thế Kình Đà giáp Lộc Tồn, Tả Hữu giáp Mệnh, Không Kiếp giáp Kỵ. Bài giải thích cách an sao và cách luận.
Dân tộc Co sống lâu đời ở tây bắc Quảng Ngãi, tây nam Quảng Nam, nói tiếng nhóm Môn-Khơ Me, có hệ thống thờ cúng phong phú và lễ đâm trâu lớn nhất năm.
Trùng tang là gì và vì sao người Việt chọn giờ nhập quan, kiêng ngày chôn cất? Nhân học đọc các tục lệ tang lễ như cách giảm bất an khi có người mất.
Dân tộc Ngái là một trong 54 dân tộc Việt Nam, dân số rất ít, cư trú phân tán ở Quảng Ninh, Hải Phòng, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng.
Theo tục dân gian, mâm cúng cô hồn bày ngoài sân, trước ngõ, không đặt trong nhà, nhiều nhà quay mâm ra ngoài. Giờ cúng, mâm ba miền và điều kiêng.
Hám Long Kinh và Nghi Long Kinh, truyền thống quy cho Dương Quân Tùng, bàn cách nhận diện long mạch, phân biệt chín sao và tránh nhầm chi long với chân long.
Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa ở Lý Sơn gồm tế thần, cầu an, cung nghinh, rước linh vị binh phu, thả thuyền tế và đua thuyền Tứ Linh, gắn với đội Hoàng Sa xưa.
Bốc mộ cải táng gồm các bước cáo từ đường, khai mả, nhặt xương, rảy nước vang, táng lại và khấn Thổ công theo Phan Kế Bính. Tục lệ khác nhau giữa các vùng.
Quẻ Thuần Khảm số 29, tên kinh Tập Khảm, Khảm chồng Khảm, hai hào dương đắc trung bị âm vây. Quái từ, Tượng từ, sáu hào từ và bài học đi qua hiểm trùng lặp.
Nguyệt phá trong Lục Hào là hào bị chi tháng xung, thường lấy làm điềm suy bại. Bài phân tích khi nào phá mà không phá theo Tăng san bốc dịch và các phái.
Giỗ đầu (tiểu tường) là lễ mãn tang năm thứ nhất, mâm cúng thường có cơm úp, trứng luộc, gà, xôi và vàng mã. Lễ này long trọng hơn giỗ thường.
Theo Việt Nam phong tục, tế ngu tính từ ngày an táng: hôm chôn là sơ ngu, ngày thứ ba là tam ngu. Còn 49 ngày, 100 ngày, giỗ đầu thì đếm từ ngày mất.
Hầu hết tiện ích không cần tài khoản. Hồ sơ để lưu và đọc tiếp.
Chọn ngôn ngữ
Trang này chưa có đủ ba bản ngôn ngữ.